Bên dòng Bến Ngự

Nước sông Bến Ngự mùa thu chảy qua kiệt nhỏ bến đò bằng một nhịp điệu phẳng lặng, êm đềm đến nao lòng. Mới đầu tháng Chín mà những vạt mưa rào đặc trưng xứ Huế đã lốm đốm rơi trên những mái ngói rêu phong. Nằm sâu trong chiếc kiệt quanh co ôm lấy bờ sông, ngôi nhà rường ba gian của gia đình ông bà Mộc đứng đó, thâm trầm và kiên nhẫn như chính lịch sử của mảnh đất này.
Chiều nay, Thành trở về. Tiếng chuông xe đạp lách cách dừng lại trước cánh cổng gỗ sơn đen đã tróc sơn từng mảng. Anh đứng ngập ngừng nhìn vào khoảng sân gạch rợp bóng cây bưởi và những chậu mai chiếu thủy tỏa hương thoang thoảng.
Ở chõng tre dưới hiên, anh Phong người anh cả đang ngồi cặm cụi sửa lại chiếc lồng bàn bằng tre đã sờn. Bờ vai anh hơi nhô cao dưới chiếc áo sơ mi màu xám tro dán chặt vào lưng vì mồ hôi. Bàn tay anh bàn tay chằng chịt những gân xanh và những đốt ngón to bè đưa mũi kim khâu từng mũi cước dẻo dẻo, đều chặn chặn.
Thành nhẹ nhàng bước vào sân, giọng anh nghẹn lại:
– Anh Cả… Em mới về.
Anh Phong ngẩng đầu. Gương mặt xương xương với đốm đồi mồi hai bên thái dương đột ngột giãn ra. Anh đặt chiếc lồng bàn xuống, đứng dậy vội vã, nụ cười hiền hậu làm hằn sâu những vết chân chim nơi đuôi mắt:
– Út về đó hỉ? Răng không nhắn trước để anh dặn O Hai đi chợ mua ít cá bống về kho nghệ cho Út ăn? Mau vô nhà đi em, ngoài ni gió lạnh đó.
Giọng anh Phong trầm ấm, mang đậm thổ âm Huế ngọt ngào và nhẫn nại. Mấy mươi năm rồi, từ ngày Thành còn là đứa trẻ lên năm nay đã là một người đàn ông ngoài bốn mươi có địa vị trên thành phố, trong mắt anh Phong, Thành vẫn luôn là “thằng Út” nhỏ bé ngày nào.
Gia đình Thành có đông anh em. Tám người em, bốn trai bốn gái, và anh Phong là anh Cả. Cha mất sớm trong một chuyến đò ngang mùa lũ trên sông Hương khi Thành mới lọt lòng. Mẹ một tay tảo tần thân gái nuôi đàn con nheo nhóc, nhưng sự trụ cột thực sự trong căn nhà ấy lại đè nặng lên vai anh Phong. Năm mươi lăm tuổi, anh Phong chưa từng một lần lập gia đình. Anh sống một đời độc thân, lặng lẽ trong ngôi nhà cổ bên dòng Bến Ngự để làm chỗ dựa cho cả đàn em.
Thành ngồi xuống chiếc ghế đẩu, ánh mắt vô tình lướt qua góc nhà. Chiếc bàn học gỗ gụ ngày xưa tám anh em từng chen chúc nhau ngồi học vẫn còn đó, mặt bàn bóng lộn vết mài của thời gian.
Thành nhớ như in những năm tháng gian khó của thập niên tám mươi. Huế nghèo, nhà lại đông miệng ăn. Bữa cơm chỉ toàn khoai độn cơm, đĩa mắm quẹt đen thui và đĩa rau muống luộc. Nhớ những đêm mùa đông Huế mưa dầm dề, nước sông Bến Ngự dâng sát mép sân, cái lạnh cắt da cắt thịt lùa qua khe cửa. Trong căn phòng chật chội, tám đứa em nằm chen chúc dưới chiếc chăn đắp đã sờn bông. Anh Phong bao giờ cũng là người thức muộn nhất. Anh ngồi bên đèn dầu, cặm cụi đan từng chiếc lồng tre, khâu từng chiếc nón lá đem bán lấy tiền mua sách vở cho các em.
Năm Thành thi đậu đại học ngoài Hà Nội, cả nhà vừa mừng vừa lo. Tiền học phí, tiền ăn ở trên đất thủ đô là một con số khổng lồ với gia đình nghèo bên sông Bến Ngự. Đêm đó, Thành trằn trọc không ngủ được, nghe tiếng thở dài thượt của mẹ ngoài phòng khách. Rồi anh thấy anh Phong bước vào, đặt lên đầu giường Thành một xấp tiền gấp gọn gàng trong chiếc khăn tay cũ.
– Út cứ yên tâm ra Hà Nội học. Mọi chuyện ở nhà có anh Cả lo ,Anh Phong chỉ nói vỏn vẹn một câu rồi lẳng lặng bước ra.
Sau này Thành mới biết, để có xấp tiền đó, anh Phong đã bán đi chiếc xe đạp Mifa tài sản quý giá nhất mà cha để lại, rồi đi bộ hàng cây số mỗi ngày để làm thuê ở lò gạch ngoài bãi bồi. Tám người em, từng người một, nhờ bờ vai gầy của anh Cả mà học hành thành tài. Người làm bác sĩ, người làm thầy giáo, người đi công tác xa… Họ lần lượt rời bỏ căn nhà bên sông Bến Ngự để xây dựng tổ ấm riêng. Chỉ có anh Phong ở lại, phụng dưỡng mẹ già cho đến ngày bà nhắm mắt xuôi tay, rồi tiếp tục trông nom bàn thờ tổ tiên và giữ gìn nếp nhà cũ.
Bữa cơm chiều hôm ấy đơn sơ với đĩa rau luộc, bát nước luộc dầm sấu và đĩa thịt luộc chấm tôm chua đậm chất Huế. O Hai người chị thứ ba sống ở kiệt bên bước sang phụ nấu nướng. Bữa ăn ấm cúng trôi qua trong những câu chuyện thăm hỏi rỉ rả. Anh Phong chỉ ngồi gắp thức ăn cho Thành và O Hai, còn mình thì lặng lẽ ăn bát cơm độn ít măng khô.
– Anh Cả răng không ăn thịt? – Thành nhíu mày hỏi.
– Anh quen ăn chay rồi Út ơi. Giờ già rồi, ăn thịt thấy nặng bụng Anh Phong cười hòa nhã, ánh mắt xoa dịu.
Nhìn cái cách anh Phong gạt phần ngon nhất sang bát cho em, lòng Thành chợt dấy lên một nỗi niềm xót xa. Anh nhớ ngày xưa, mỗi lần nhà có miếng cá, miếng thịt hiếm hoi, anh Phong cũng luôn lấy lý do “anh không thích ăn” hoặc “anh đau bụng” để nhường toàn bộ cho đàn em đang tuổi lớn. Sự “không thích” ấy đã kéo dài suốt một đời người.
Tối đó, trời xứ Huế đổ mưa bão bùng. Gió từ dòng Bến Ngự thổi qua vườn mạ làm lá cây xào xạc. Những hạt mưa đập liên hồi vào mái ngói âm dương kêu “thần thấu” như bản nhạc buồn triền miên của đất Cố đô.
Thành nằm trên chiếc giường gỗ cũ ở gian phụ, chập chờn không sao ngủ được. Nửa đêm, nghe tiếng húng hắng ho ngoài nhà trên, anh nhẹ nhàng bật dậy, men theo hành lang gỗ ra phòng khách.
Dưới ánh đèn dầu tù mờ thói quen tích trữ đèn phòng khi mất điện ngày mưa bão của anh Phong, Thành thấy anh Cả đang quỳ gối trước bàn thờ cha mẹ. Anh Phong mặc chiếc áo dài đen đã sờn vai, hai tay chắp lại trước ngực, đầu cúi thấp. Tiếng khấn thì thầm của anh lẫn trong tiếng mưa đêm:
– Lạy ba, lạy mạ… Thằng Út hôm nay về, con mừng lắm. Mấy đứa nhỏ chừ ai cũng đàng hoàng, có gia đình ấm êm, con thấy mình đã làm tròn lời hứa với ba mạ trước lúc nhắm mắt… Chỉ xin ba mạ phù hộ cho tụi nó đi đường xa được bình an, sức khỏe… Còn con, sống được ngày nào con giữ cái bàn thờ này ngày đó, ba mạ đừng lo…
Thành đứng lặng người ở góc tối. Cổ họng anh nghẹn đắng, từng giọt nước mắt nóng hổi ùa ra, lăn dài trên má.
Lúc anh Phong đứng dậy, bước chân anh lảo đảo vì tê dại sau một thời gian quỳ lâu. Anh khập khiễng bước lại chiếc rương gỗ gụ đặt cạnh bàn thờ chiếc rương mà ngày nhỏ Thành vẫn thấy anh khóa kỹ. Anh Phong dùng chiếc chìa khóa nhỏ đeo ở cổ để mở nắp rương.
Thành bước lại gần, giọng run run:
– Anh Cả…
Anh Phong giật mình quay lại, thấy em út đang đứng sau lưng thì hơi ngượng ngùng:
– Út… Răng chưa ngủ em ? Gió lạnh lắm đó.
– Anh đang làm gì rứa anh? Sao anh không đi nghỉ?
Anh Phong nhìn chiếc rương mở nắp, rồi mỉm cười dịu dàng:
– Anh coi lại mấy đồ cũ thôi. Đêm mưa bão, tự nhiên thấy nhớ ngày xưa…
Thành tiến lại gần, nhìn vào bên trong chiếc rương. Mắt anh nhòe đi khi nhận ra những vật dụng nằm ngay ngắn bên trong.
Không có tiền bạc, không có chút nữ trang hay tài sản giá trị nào. Trong rương là từng tập sổ học bạ cũ kỹ của tám anh em, được bọc nilon cẩn thận để tránh ẩm mốc. Là chiếc áo len đầu tiên Thành mặc khi đi thi học sinh giỏi cấp tỉnh, đã sờn vai nhưng được giặt sạch sẽ và xếp phẳng phiu. Là những tấm thiệp chúc mừng sinh nhật, những lá thư từ xa gửi về của từng người em trong suốt ba mươi năm qua…
Và ở góc rương, nằm dưới cùng, là một tập sổ nhỏ ghi chép cẩn thận bằng mực tím đã phai màu.
Thành run run đưa tay lấy tập sổ. Anh mở từng trang. Đó là cuốn sổ nhật ký chi tiêu và ghi nhớ của anh Phong từ năm mười tám tuổi:
“Tháng 10/1985: Thằng Hai cần tiền mua bộ sách lớp 9. Đã nhận thêm việc gánh nước thuê ở bến đò.”
“Tháng 03/1990: Con Út bị sốt siêu vi. Mẹ khóc hoài. Bán chiếc nhẫn cưới của mạ không đành, mình xin ứng trước tiền lương đan nón ba tháng.”
“Tháng 09/1998: Thằng Út đậu Đại học Hà Nội. Phải bán xe đạp Mifa của ba. Không sao, chân mình còn khỏe, đi bộ được. Miễn Út đi học thành người.”
“Tháng 05/2010: mạ mất. Mạ dặn phải giữ cái nhà này làm nơi đi về cho mấy đứa. Mấy đứa chừ có nhà to cửa rộng trên phố, nhưng mình phải giữ cái bếp này luôn ấm lửa, để khi tụi nó mệt mỏi có chỗ quay về…”
Trang cuối cùng, mới ghi cách đây vài tháng, dòng chữ có phần nguệch ngoạc vì tay anh đã run:
“Đêm nay đau khớp gối quá. Nhưng ráng giữ sức khỏe, đừng để mấy đứa lo. Tụi nó công việc lu bù, mình làm phiền tụi nó sao đành. Cầu mong cho tám đứa em luôn hòa thuận, thương yêu nhau như ngày còn ở bên sông Bến Ngự…”
Thành không cầm được lòng mình nữa. Anh òa khóc như một đứa trẻ lên năm. Anh quỳ gối xuống sàn nhà lạnh ngắt, ôm chần lấy đôi chân gầy guộc, chằng chịt những vết sẹo của anh Cả.
– Anh Cả ơi! Anh gánh vác cho chúng em cả một đời… Sao anh chưa bao giờ than thở lấy một lời? Sao anh không nghĩ cho bản thân anh một lần rứa anh?
Anh Phong bất ngờ trước phản ứng của em. Bàn tay gầy gồ kề của anh đặt lên đầu Thành, xoa nhẹ mái tóc đã điểm vài sợi bạc của đứa em út. Giọt nước mắt hiếm hoi lăn qua vệt đồi mồi trên má người anh cả, rơi xuống vai áo Thành nóng hổi.
– Út ơi… – Giọng anh Phong thì thào, chứa đựng tất cả sự bao dung của dòng sông Bến Ngự, Anh là anh Cả mà. Ba mất sớm, anh không lo cho mấy em thì ai lo? Thấy mấy em khôn lớn, nên người, có gia đình êm ấm… đó là cái phúc lớn nhất đời anh rồi. Anh cần chi cho riêng anh nữa con…
Mưa ngoài sông Bến Ngự vẫn rơi triền miên, nhưng trong căn nhà rường cổ kính, ngọn đèn dầu vẫn tỏa ra một luồng ánh sáng vàng ấm áp. Thành ôm chặt lấy anh mình, nhận ra một sự thật muộn mằn nhưng sâu sắc: Trụ cột của gia đình này không phải là những bức tường gạch hay mái ngói rêu phong, mà chính là trái tim bao la, nhẫn nại và sự hy sinh không bờ bến của người anh cả thầm lặng.
Sáng hôm sau, bão tan. Mặt nước sông Bến Ngự lại trong xanh, phản chiếu ánh nắng thu vàng như mật. Thành bước ra sân, phụ anh Phong dọn dẹp những cành mạ bị gãy sau đêm bão. Anh dường như thấy lòng mình nhẹ hẫng và bình yên đến lạ. Anh biết rằng, dù cuộc sống ngoài kia có giông bão hay nhọc nhằn đến đâu, chỉ cần quay về căn nhà bên bờ sông này, anh vẫn luôn có một bóng mát vĩ đại để che chở bóng mát của người anh cả xứ Huế suốt đời thầm lặng yêu thương.
THÔNG ĐIỆN GIA HUẤN
Nghĩa tình anh em trong gia đình là một thứ tài sản vô giá, không được đo bằng nhung lụa hay tiền tài, mà được chắt chiu từ những ân tình thầm lặng qua năm tháng.
Có những người anh, người chị đã tự nguyện khép lại những ước mơ riêng, gánh trên vai trọng trách gia đình để làm bệ phóng cho các em khôn lớn. Sự hy sinh ấy lặng lẽ như dòng sông Bến Ngự, không ồn ào, không đòi hỏi đáp đền, nhưng lại sâu thẳm và bền bỉ vô cùng.
Đạo làm em, biết ơn và trân trọng sự hy sinh của người đi trước chính là cái gốc của đạo hiếu và sự tử tế. Hãy biết quay về, biết sẻ chia và yêu thương khi còn có thể, bởi trên đời này, không có bóng mát nào ấm áp và bình yên bằng bóng mát của tình thân gia đình.
Giáo dục gia đình : ✍🏻3T

