Tú Xương: tiếng cười trong nước mắt và cuộc vật lộn giữa dòng đời nho tàn
Thành Nam những ngày cuối thu, tiếng chuông chùa Phổ Minh thỉnh thoảng lại vọng qua dòng sông Vị Hoàng gầy guộc. Giữa không gian nửa cổ kính nửa tân thời của một vùng đất sĩ phu đang tan rã trước làn sóng đô thị hóa thuộc địa, bóng dáng một sĩ tử gầy gò, tay cầm quạt giấy, vạt áo dài sần sùi sương gió như vẫn hiện về trong tâm trí người đời. Trần Tế Xương cái tên vừa gợi lên niềm cay đắng của kẻ tám lần đi thi chỉ đỗ tú tài, vừa là một tượng đài sừng sững của thi ca trào phúng Việt Nam. Hành trình tìm về chân dung ông không chỉ là chuyến ngược dòng thời gian về một thời vang bóng, mà còn là cuộc đối thoại sâu sắc với một tâm hồn nghệ sĩ lớn: người đã biến những ê chề cá nhân thành tiếng cười chua chát, giải phẫu trần trụi một xã hội nhố nhăng buổi Tây – Đông giáp mối.
1. BI KỊCH CỦA MỘT THẾ HỆ NHO TÀN
Trần Tế Xương (1870 – 1907), thường được gọi thân thương là Tú Xương, sinh ra tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (nay thuộc phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định). Thành Nam những năm cuối thế kỷ XIX không còn giữ được nét tĩnh lặng của vùng đất học Kinh Kỳ xưa cũ. Sự xuất hiện của bộ máy đô hộ Pháp, những ngôi nhà tầng mọc lên cạnh mái đình rêu phong, tiếng còi tàu điện xé tan không gian yên bình… tất cả tạo nên một cảnh tượng hỗn dung, xáo trộn.
Cuộc đời Tú Xương là một chuỗi những mâu thuẫn dai dẳng giữa lý tưởng xã hội và thực tại nghiệt ngã. Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, ông theo đuổi con đường khoa cử với ước vọng kinh bang tế thế như bao sĩ phu thời bấy giờ. Nhưng trớ trêu thay, con đường ấy lại trở thành bi kịch kéo dài suốt đời ông. Tám lần khăn gói đi thi (từ khoa Nhâm Thìn 1892 đến khoa Đinh Mùi 1907), ông chỉ đỗ được bậc Tú tài ở khoa Giáp Ngọ (1894). Cái danh “Tú tài ban khoa” không đủ để làm quan, cũng chẳng đủ để kiếm sống, biến ông thành một kẻ bất hửu giữa dòng đời.
“Sĩ khí nhất朝 tàn như thử,
Thiên hạ hà nhân bất lệ流?”
(Chí khí người hiền một sáng tan như thế,
Trong thiên hạ ai là người không nhỏ lệ?)
Bước ngoặt lớn nhất làm nên tư duy nghệ thuật của Tú Xương chính là sự sụp đổ của hệ thống giá trị Nho giáo. Ông sống ở đúng ngã ba đường của lịch sử: khi chế độ phong kiến đã mục nát, còn làn sóng văn minh phương Tây tràn vào mang theo tính chất thương mại hóa phàm tục. Chính sự trải nghiệm chát chúa từ thất bại khoa cử và sự quan sát tinh tường trước thời thế đã nhào nặn nên một nhà thơ trào phúng kiệt xuất. Ông không đứng ngoài cuộc để phán xét, mà tự ném mình vào dòng chảy ấy, vừa là nạn nhân, vừa là người chép sử bằng thơ.
2. GIA TÀI TÁC PHẨM VÀ NHỮNG “ĐỨA CON TINH THẦN”
Dù qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ (37 tuổi), Tú Xương đã để lại một di sản nghệ thuật vô giá. Thống kê của các nhà nghiên cứu cho thấy, gia tài tác phẩm của ông hiện còn lưu giữ được khoảng trên 100 bài thơ cùng một số bài văn tế, câu đối và bài phú. Hầu hết các sáng tác của ông không được đóng thành tập khi còn sống mà truyền miệng trong nhân dân hoặc lưu lạc qua các bản chép tay, sau này mới được các nhà văn hóa như Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Trần Thanh Mại thu thập và khảo cứu.
Di sản của Tú Xương chia làm hai mảng chính song hành và hòa quyện: Thơ Trào phúng và Thơ Trữ tình.
* “Thương vợ” Bức chân dung nợ nần và tình yêu thương da diết:
Nếu phải chọn một tác phẩm trữ tình đạt đến độ hoàn hảo cả về cảm xúc lẫn nghệ thuật của Tú Xương, đó chắc chắn phải là bài thơ “Thương vợ”. Bài thơ được viết trong hoàn cảnh ông liên tục thi hỏng, mọi gánh nặng kinh tế gia đình đều dồn lên vai người vợ hiền bà Trần Thị Tố.
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
Nghệ thuật của bài thơ nằm ở sự kết hợp tài tình giữa chất liệu ca dao dân gian (“thân cò”) với ngôn ngữ đời thường vô cùng sinh động (“eo sèo”, “mom sông”). Hình ảnh bà Tú lặn lội nơi đầu sóng ngọn gió được khắc họa vừa gian lao vừa đức hạnh. Nhưng điểm đặc sắc nhất, mang đậm dấu ấn Tú Xương, chính là hai câu kết:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Đây là lời chửi “thói đời” nhưng thực chất là lời tự trách mình sâu sắc. Bằng cách tự nhận mình là kẻ “hờ hững”, Tú Xương đã vượt lên trên tư tưởng “nam tôn nữ ty” khắt khe của phong kiến để thừa nhận sự bất lực của bản thân và tôn vinh người vợ. Tác phẩm không chỉ dừng lại ở tình cảm gia đình mà còn là tiếng thở dài cay đắng của một trí thức bế tắc trước thời cuộc.
* “Vịnh khoa thi Hương” & “Đất Vị Hoàng” Bức tranh xã hội nhố nhăng:
Ở mảng thơ trào phúng, Tú Xương thể hiện một sức mạnh phẫu thuật xã hội khủng khiếp. Bài thơ “Vịnh khoa thi Hương” (khoa Đinh Dậu 1897) là một tài liệu lịch sử bằng thơ vô cùng quý giá về sự suy tàn của khoa cử phong kiến:
“Lôi nhếch sĩ tử đi vai đeo lọ,
Oọc ẹo quan trường bụng chửa đánh đu.
Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,
Váy lê quét đất bà đầm ra.”
Chỉ bằng vài nét cọ biếm họa, Tú Xương đã lột tả trần trụi cái cảnh “nhập nhằng” của trường thi thời thuộc địa. Sự xuất hiện của “quan sứ” và “bà đầm” ở nơi chốn thiêng liêng của đạo học không chỉ là sự xúc phạm đối với tri thức truyền thống mà còn là biểu hiện của một đất nước đã mất chủ quyền.
Bên cạnh đó, bài thơ “Đất Vị Hoàng” lại là một tiếng thở dài xót xa trước sự biến đổi của quê hương:
“Có đất nào như đất ấy không?
Phố phường tiếp nối bến sông hồng.
Đêm nghe tiếng trống chầu vang dội,
Sáng thấy cờ Tây phất phới hồng.”
3. TẦM VÓC VÀ ĐÓNG GÓP CHO NỀN VĂN HỌC / THI CA VIỆT NAM
Trong dòng chảy văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Tú Xương đứng ở một vị trí hoàn toàn biệt lập. Nếu như Nguyễn Khuyến mang đến một tiếng cười thâm trầm, kín đáo của một bậc đại khoa quy ẩn, thì Tú Xương lại quăng mình vào giữa lòng đời với tiếng cười góc cạnh, bộc trực và trực diện.
– Việt hóa thể thơ Đường luật: Tú Xương sử dụng thể thơ Thất ngôn bát cú và Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật những thể thơ vốn đòi hỏi tính trang trọng, quy phạm nhưng lại nạp vào đó thứ ngôn ngữ bình dân, góc cạnh của đời sống hằng ngày. Từ ngữ chửi đổng, tiếng lóng, khẩu ngữ thị thành đi vào thơ ông một cách tự nhiên như hơi thở.
– Nghệ thuật trào phúng độc đáo: Tiếng cười của Tú Xương không phải là tiếng cười giải trí đơn thuần. Đó là tiếng cười “ra nước mắt” (tiếu lâm trong cay đắng). Ông giễu người khác một, nhưng giễu chính mình mười. Việc tự biến mình thành đối tượng trào phúng (một kẻ “ăn xịt”, “đổ bác”, “dài lưng tốn vải”) là một bước tiến vượt bậc về tính hiện đại trong tư duy sáng tác.
Nhà nghiên cứu văn học Xuân Diệu từng nhận định trong cuốn “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam”:
“Tú Xương là một nhà thơ lớn của dân tộc… Thơ ông là sự kết hợp giữa cái sắc sảo của tư duy hiện đại và cái đằm thắm của tâm hồn dân gian. Ông đã mở đường cho dòng thơ trữ tình – trào phúng hiện đại Việt Nam.”
GS. Đặng Thai Mai cũng nhấn mạnh tính chiến đấu trong thơ ông:
“Trong cái xã hội giao thời nhố nhăng ấy, tiếng cười của Tú Xương như những gáo nước lạnh tạt vào mặt những kẻ hợm hĩnh, cơ hội, đồng thời là bản tố cáo chát chúa đối với chính sách thực dân hóa.”
Tú Xương chính là gạch nối quan trọng chuyển tiếp từ nền văn học trung đại mang tính quy phạm sang nền văn học hiện đại mang tính cá thể và dân chủ hóa.
4. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN VÀ GÓC NHÌN ĐƯƠNG ĐẠI
Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Tú Xương tạ thế trong một trận cảm đột ngột vào đầu năm Đinh Mùi (1907), nhưng di sản của ông chưa bao giờ bị lãng quên.
– Sức sống trong đời sống giáo dục & nghệ thuật: Các tác phẩm như “Thương vợ”, “Vịnh khoa thi Hương”, “Sông Lấp” từ lâu đã trở thành những bài học kinh điển trong chương trình Ngữ văn phổ thông, giúp nhiều thế hệ học sinh không chỉ hiểu về kỹ thuật thơ ca mà còn thấm thía về đạo lý làm người và lịch sử dân tộc. Ngoài ra, hình tượng Tú Xương và bài thơ “Thương vợ” đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho ca trù, xẩm, hát văn và sân khấu kịch nói.
– Giai thoại và những cuộc tranh luận văn học: Xung quanh cuộc đời Tú Xương có vô số giai thoại dở khóc dở cười. Người ta kể rằng, khi ông qua đời, trong nhà không có lấy một cọc tiền để lo tang lễ. Bạn bè xóm giềng và các sĩ tử khắp Nam Định đã góp tiền lại để mai táng cho ông. Câu đối thờ ông do một người bạn viết đã đúc kết trọn vẹn một kiếp người ngông nghênh mà cay đắng. Nhiều nhà nghiên cứu đương đại vẫn tiếp tục tranh luận về ranh giới giữa cái “ngông” và cái “bế tắc” trong thơ ông liệu việc ông tự nhận mình chơi bời có phải là chiếc mặt nạ để che giấu nỗi đau đớn khôn cùng trước vận nước thăng trầm?
5. LỜI KẾT
Tú Xương trút hơi thở cuối cùng khi chưa đầy 40 tuổi, để lại một khoảng trống hun hút trên bồi đắp văn học buổi đầu thế kỷ XX. Nhưng những gì ông gửi lại cho đời thì vẫn nguyên vẹn giá trị.
Ngồi bên bờ hồ Vị Xuyên hôm nay, ngắm nhìn ngôi mộ nhỏ của nhà thơ nằm lọt giữa những tán cây xanh mát, người ta vẫn nghe như đâu đây tiếng sóng xô của dòng sông Lấp năm xưa. Tiếng cười của Tú Xương không hề mất đi theo thời gian, bởi đó là tiếng cười đơm hoa từ tình yêu quê hương đất nước tha thiết, từ lòng trắc ẩn sâu sắc đối với con người và nỗi đau đau đáu trước những giá trị đạo đức đang bị xói mòn. Trần Tế Xương không chỉ là ông Tú của Nam Định, ông là bậc tài hoa của thi đàn dân tộc người đã dùng ngòi bút làm đao xẻ dọc những hư danh, để lại cho mai sau một di sản thi ca vừa rực rỡ, vừa đắng cay, nhưng tràn đầy nhân văn.
Biên khảo:3T



