Chạnh lòng nước non | Nhớ vua Duy Tân

Tôi sinh ra và lớn lên ở Huế, từ nhỏ đã quen nghe câu hò này. Nghe nhiều đến thuộc lòng, nhưng mãi sau, khi tìm đọc lịch sử triều Nguyễn, tôi mới biết câu hò còn được người Huế nhắc đến cùng những chuyện về vua Duy Tân và cuộc khởi nghĩa chống Pháp năm 1916.
Vua Duy Tân tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh San, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1900 tại Huế, là con vua Thành Thái. Ông lên ngôi năm 1907, khi mới bảy tuổi, trở thành vị vua thứ mười một của triều Nguyễn.
Trong lịch sử triều Nguyễn, không ít vị vua lên ngôi lúc còn nhỏ. Vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân và Bảo Đại đều phải sớm bước vào việc triều chính. Riêng Duy Tân lên ngôi trong hoàn cảnh vua cha Thành Thái vừa bị thực dân Pháp phế truất, triều đình Huế ngày càng lệ thuộc vào chính quyền bảo hộ.
Lúc được đưa lên ngai vàng, ông còn quá nhỏ để tự quyết định việc nước. Nhưng chỉ vài năm sau, những việc làm của nhà vua đã khiến các đại thần không ít lần lúng túng.
Theo một số tài liệu viết về vua Duy Tân, năm mười ba tuổi, ông đã xem xét hòa ước Patenôtre ký giữa triều Nguyễn và Pháp năm 1884. Nhận thấy nhiều điều khoản không được thực hiện đúng như thỏa thuận, nhà vua muốn cử Thượng thư Nguyễn Hữu Bài sang Pháp yêu cầu xét lại hòa ước. Nhưng không vị đại thần nào dám nhận chuyến đi ấy.
Khoảng năm mười lăm tuổi, vua Duy Tân lại yêu cầu các quan phụ chính ký vào một văn bản để đích thân mang đến Tòa Khâm sứ. Các đại thần không dám ký vì sợ người Pháp gây khó dễ, sau cùng phải nhờ Thái hậu can gián.
Hai sự việc xảy ra khi nhà vua mới ở tuổi thiếu niên. Ông muốn thực hiện quyền của một vị vua, nhưng các quan trong triều còn phải nhìn thái độ của người Pháp trước khi quyết định.
Người Huế còn kể một giai thoại về vua Duy Tân trong lần tắm biển Cửa Tùng, Quảng Trị.
Khi lên bờ, tay còn dính cát, người thị vệ mang nước đến cho vua rửa tay. Nhà vua hỏi:
“Tay bẩn thì lấy nước mà rửa, nước bẩn thì lấy chi mà rửa?”
Người thị vệ chưa biết đáp thế nào, vua nói tiếp:
“Nước bẩn thì lấy máu mà rửa.”
Chuyện được truyền lại qua nhiều đời, khó xác nhận từng lời đối đáp. Nhưng đặt trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, cũng dễ hiểu vì sao người Huế vẫn nhớ câu chuyện này khi nhắc đến vua Duy Tân.
Năm 1916, nhà vua bí mật liên kết với hai chí sĩ Trần Cao Vân và Thái Phiên, cùng những người yêu nước trong Việt Nam Quang phục Hội, chuẩn bị khởi nghĩa chống Pháp.
Kế hoạch dự định tiến hành vào đêm 3 rạng sáng 4 tháng 5 năm 1916. Nhưng cơ mưu bị lộ. Cuộc khởi nghĩa thất bại, vua Duy Tân bị bắt, bị phế truất và đày sang đảo La Réunion giữa Ấn Độ Dương. Hai chí sĩ Trần Cao Vân và Thái Phiên bị xử chém tại Huế.
Năm ấy, vua Duy Tân chưa tròn mười sáu tuổi.
Gần ba mươi năm sống lưu đày tại La Réunion, ông trải qua nhiều biến động của thời cuộc. Trong Thế chiến thứ hai, ông tham gia lực lượng Pháp Tự do chống phát xít.
Ngày 26 tháng 12 năm 1945, trên đường trở lại Đông Dương, ông tử nạn trong một tai nạn máy bay tại Trung Phi, hưởng dương bốn mươi lăm tuổi.
Mãi đến năm 1987, hài cốt vua Duy Tân mới được đưa về Huế, an táng tại An Lăng, bên cạnh vua cha Thành Thái.
Tính từ ngày bị lưu đày đến khi trở về quê nhà, vừa tròn bảy mươi mốt năm.
Nhắc đến vua Duy Tân, tôi lại nhớ câu hò Bến Văn Lâu:
“Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm.
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông.
Thuyền ai thấp thoáng bên sông,
Nghe câu mái đẩy, chạnh lòng nước non.”
Nhiều người vẫn nghĩ đây là một câu hò dân gian. Theo tư liệu về cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị và lời kể của nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương, câu hò do cụ Ưng Bình sáng tác, về sau được truyền tụng rộng rãi.
Bến Văn Lâu cũng xuất hiện trong những câu chuyện về các cuộc gặp bí mật giữa vua Duy Tân và chí sĩ Trần Cao Vân trước cuộc khởi nghĩa năm 1916. Phần chuyện này vẫn cần đối chiếu thêm với sử liệu, bởi những lời truyền tụng lâu năm đôi khi có nhiều dị bản.
Tôi nhớ những buổi chiều ở Huế, đi ngang Phu Văn Lâu, nhìn xuống bờ sông Hương. Ngày ấy, câu hò đối với tôi chỉ là một điệu hát quen thuộc của quê nhà. Sau này, khi biết thêm chuyện vua Duy Tân, nghe lại mới thấy thấm thía những chữ “ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông”.
Hơn một trăm năm đã qua kể từ cuộc khởi nghĩa năm 1916. Phu Văn Lâu vẫn còn đó. Người qua lại mỗi ngày, thuyền vẫn xuôi ngược trên sông Hương.
Còn câu hò xưa, thỉnh thoảng nghe ai cất lên, tôi lại nhớ đến vua Duy Tân, đến Trần Cao Vân, Thái Phiên và những chuyện xảy ra trên đất Huế một thời.
“Thuyền ai thấp thoáng bên sông,
Nghe câu mái đẩy, chạnh lòng nước non…”
Lisa La | Lặng và Viết
Tư liệu tham khảo: Các ghi chép lịch sử về vua Duy Tân, cuộc khởi nghĩa năm 1916 và câu hò Bến Văn Lâu.



