Danh lam thắng cảnh

A Lưới – Miền ký ức phía tây xứ Huế

“Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng,

Gian khổ sẽ dành phần ai?”

Mỗi lần nghe lại câu hát ấy, tôi thường nhớ về một quãng đời rất xa. Một thời tuổi trẻ sống giữa núi rừng, giữa những chuyến đi xuyên Việt và giữa niềm tin giản dị rằng: nếu mình không đi tới những nơi khó khăn nhất, sẽ có những phận người mãi lặng im phía sau cuộc sống này.

Bạn bè thân hữu hôm nay có lẽ ít người biết rằng tôi từng có gần năm năm sống cùng đồng bào miền núi khi triển khai các dự án phát triển cộng đồng gắn với Chương trình 135 của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 1999–2005. Đó cũng là thời kỳ Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói Giảm nghèo (CPRGS) bắt đầu được lồng ghép vào các chương trình phát triển vùng sâu vùng xa.

Ngày ấy, tôi rời công việc điều hành tại Luks Group Hongkong để phụ trách văn phòng đại diện tại Việt Nam cho các chương trình hỗ trợ phát triển cộng đồng của World Bank cùng nhiều tổ chức tài trợ quốc tế tại khu vực Đông Nam Á.

Ở tuổi hai mươi sáu, đó là một quyết định khá liều lĩnh. Nhưng tuổi trẻ đôi khi sống bằng lý tưởng nhiều hơn những tính toán an toàn.

Tôi đi qua Nam Đông, A Lưới rồi nhiều huyện vùng cao Tây Nguyên để khảo sát thực trạng đói nghèo, viết các Project Proposal gửi Regional Office xin phân bổ ngân sách và quan trọng hơn cả là để hiểu cách người dân sống giữa núi rừng, từ đó tìm ra những mô hình sinh kế có thể giúp họ thoát nghèo bền vững.

Ngày đó, chúng tôi hiểu rất rõ một điều: nếu chỉ mang tiền, hạt giống hay con giống đến phát rồi rời đi thì nguồn viện trợ sớm muộn cũng “đổ sông đổ biển”.

Chúng tôi cũng hiểu rằng muốn đi cùng người dân thì trước hết phải hiểu họ. Vì vậy, nguyên tắc vận hành lớn nhất ngày ấy là “ba cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân.

Có những tháng ngày sống trong các bản vùng cao A Lưới, tôi theo bà con lên nương từ lúc ba bốn giờ sáng. Có người phụ nữ địu trên lưng cả buồng chuối tám mười nải, lội bộ từ bản xuống chợ huyện chỉ để bán được 1.500 đồng. Trong khi buồng chuối ấy khi về đến thành phố có thể được bán với giá gấp hàng chục lần.

Chính những điều mắt thấy ấy khiến chúng tôi hiểu rằng cái nghèo ở miền núi không chỉ nằm ở chuyện thiếu ăn, mà còn nằm ở khoảng cách địa lý, thiếu thông tin, thiếu kỹ thuật sản xuất và thiếu cơ hội tiếp cận thị trường.

Thế là cái cô gái thành phố tưởng chỉ quen cầm bút ngày nào lăn ra sống thật với dân.

Ăn thì có gì ăn nấy.

Ngủ trên những chiếc chiếu đầy rệp.

Xuống ruộng cùng bà con cấy mạ giữa nắng chang chang, bùn lút gần nửa người. Những chuyện tưởng chỉ nằm trên giấy tờ hay báo cáo, cuối cùng đều phải tự lội ruộng, tự đào ao, tự chạm tay vào đất mới hiểu hết được.

Có những kỷ niệm đến giờ nhớ lại vẫn vừa buồn cười vừa ám ảnh.

Những khu vệ sinh lộ thiên giữa núi rừng. Nước đục màu phèn vẫn dùng cho cả tắm giặt lẫn ăn uống. Và “kẻ thù” đáng sợ nhất chính là rệp.

Tôi vẫn nhớ một cô bé cộng sự mới ra trường ngày ấy bị rệp làm ổ tận trong da. Khi trở về thành phố, bác sĩ phải rạch sâu để lấy ổ rệp ra.

Vậy mà sau khi lành bệnh, cô ấy vẫn xin quay lại vùng dự án. Chỉ nói với tôi một câu:

“Nếu mình không giúp họ thì ai sẽ giúp?”

Cho đến tận bây giờ, mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn thấy xúc động vì sự tử tế và nhiệt thành của tuổi trẻ năm ấy. Nhưng giữa tất cả những gian khó, điều ở lại sâu nhất trong tôi lại là văn hoá của đồng bào vùng cao.

Đó là những đêm quanh nhà Gươl, tiếng cồng chiêng vang vọng giữa đại ngàn Trường Sơn, những điệu Tân tung và Zazã mềm trong ánh lửa, tiếng ru con trên nương của người phụ nữ Pa Cô, Tà Ôi và ché rượu cần chuyền tay giữa đêm hội bản làng.

Có những đêm tôi ngồi rất lâu bên bếp lửa, nghe người già kể chuyện bằng thứ ngôn ngữ mình không hiểu hết, nhưng vẫn cảm nhận được chiều sâu tâm hồn và sự gắn bó kỳ lạ giữa con người với núi rừng nơi đây.

Giữa núi rừng Trường Sơn, có những đêm tôi thấy con người sống gần nhau hơn bất kỳ nơi nào khác.

Chính A Lưới đã dạy tôi hiểu rằng văn hoá không nằm trong những điều được trình diễn.

Văn hoá sống trong cách con người yêu đất, yêu bản làng và gìn giữ ký ức tổ tiên qua từng mùa rẫy đi qua đại ngàn.

Rồi từng xã, từng huyện ở Nam Đông, A Lưới và nhiều vùng cao Tây Nguyên bắt đầu thay đổi. Người dân dần biết cách canh tác bền vững hơn, biết tổ chức thành nhóm cộng đồng, biết cùng nhau quản lý sinh kế và bảo vệ nguồn lực địa phương.

Những con đường, trường học, điện sáng và nguồn nước sạch cũng dần về với nhiều bản làng vùng cao trong giai đoạn ấy, góp phần kéo khoảng cách giữa miền ngược và miền xuôi gần lại hơn.

Điều khiến tôi xúc động nhất là gần hai mươi năm sau, khi trở lại A Lưới trong những chuyến thiện nguyện riêng, vẫn còn những người già trong bản nhận ra mình.

Những ánh mắt chân chất năm nào vẫn vậy. Làn da sạm nắng của những con người từng đi qua đói nghèo vẫn hằn dấu thời gian.

Chỉ khác rằng con đường vào bản đã dễ đi hơn, trẻ con đã được đến trường nhiều hơn và những mái nhà năm xưa đã bắt đầu sáng điện.

Có lẽ tuổi trẻ đáng nhớ nhất không phải là lúc mình thành công hay được ghi nhận ra sao. Mà là khi mình từng sống hết lòng cho một điều gì đó lớn hơn những điều dành riêng cho bản thân mình.

Và tận sâu trong lòng, tôi luôn biết ơn những năm tháng ấy – những chuyến đi giữa đại ngàn đã dạy tôi hiểu rằng:

🪢 mọi sự phát triển bền vững đều phải bắt đầu từ sự tôn trọng con người, văn hoá và cộng đồng nơi mình đặt chân đến 🪢

✒️ Hồi ức của Lisa La, ghi chép từ những miền văn hoá Việt @everyone

Bài viết mới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button