Tùy bút

Quốc Học Huế – Ngôi trường ở mãi trong tim

Ba năm được làm nữ sinh Quốc Học Huế (1989-1992) cách đây gần 35 năm. Vậy mà mỗi lần nhìn thấy cánh cổng trường, những dãy nhà đỏ hiện sau vòm cây, tôi vẫn nhớ cảm giác của mình ngày xưa. Đó là niềm vui được bước vào một ngôi trường danh tiếng, xen lẫn chút e dè của một cô học trò biết từ đây mình phải cố gắng nhiều hơn.

Ngày ấy, chúng tôi đi trên sân trường mỗi ngày nhưng không mấy khi nghĩ dưới những lối đi quen thuộc là gần một trăm năm lịch sử.

Ngày 23 tháng 10 năm 1896, tức ngày 17 tháng 9 năm Thành Thái thứ tám, triều đình ban Dụ thành lập Trường Quốc Học tại kinh đô Huế. Ngày 18 tháng 11 cùng năm, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định công nhận việc thành lập trường.

Đó là lúc nền giáo dục Việt Nam đang ở giữa một cuộc chuyển đổi. Nho học và khoa cử vẫn giữ vị trí lâu đời, trong khi tiếng Pháp cùng những môn khoa học phương Tây bắt đầu được đưa vào giảng dạy. Quốc Học ra đời ngay tại chỗ giao nhau ấy.

Huế được chọn vì đang là kinh đô, nơi tập trung triều đình, quan lại và giới văn nhân. Thành phố lại nằm ở vị trí trung độ, thuận tiện cho học sinh các tỉnh miền Trung tìm về.

Trước Quốc Học đã có trường Hành Nhơn, nơi dạy ngoại ngữ để đào tạo người làm công việc thông ngôn. Việc học còn giới hạn và không thường xuyên. Khi sự giao tiếp với bên ngoài ngày một nhiều hơn, một cơ sở như thế không còn đáp ứng được nhu cầu. Triều đình và chính quyền bảo hộ đi đến quyết định mở một ngôi trường có quy mô và chương trình cụ thể hơn.

Địa điểm được chọn vốn là doanh trại thủy quân cũ bên bờ sông Hương.

Ngôi trường buổi đầu còn sơ sài. Tòa nhà chính bằng gạch, dài khoảng 80 mét, thấp và lợp ngói, có hiên trước lẫn hiên sau. Người ta dùng những vách đất trộn rơm, trát vôi để chia bên trong thành bảy phòng học. Mỗi phòng có tám chiếc bàn, tám ghế dài cho học sinh, một bục nhỏ dành cho giáo viên và chiếc bảng đen đặt trên giá ba chân. Trên tường chưa có bản đồ hay tranh ảnh.

Cổng trường khi ấy mang dáng tam quan. Dưới mái treo một chiếc chuông đồng dùng để báo giờ học. Tư liệu xưa tả tiếng chuông ấy nghe “già nua và khô khốc”.

Chi tiết này khiến tôi xúc động bởi từ một tiếng chuông hơn trăm năm trước, tôi lại nhớ tiếng trống trường của thế hệ mình. Âm thanh đã khác, bao lớp học trò cũng đã đi qua, nhưng buổi sáng đến trường, giờ đổi tiết hay phút tan học chắc vẫn khiến lòng người xao động như nhau.

Một ghi chép đầu thế kỷ XX kể rằng mỗi khi nghe hiệu lệnh, từng tốp học sinh đi chậm, lặng lẽ trong áo dài đen hoặc trắng chuyển từ lớp này sang lớp kia. Ngôi trường bên sông khi ấy đã mang nét trầm tĩnh của Huế.

Những năm đầu, tiếng Pháp là môn học chính. Học sinh còn học chữ Quốc ngữ, chữ Hán, số học, hệ đo lường, địa lý, hành chính, kế toán, trắc địa và một số môn thực hành. Chương trình cho thấy khá rõ sự chuyển tiếp của giáo dục lúc bấy giờ: cái học cũ vẫn còn, cái học mới đã bắt đầu đi vào nhà trường.

Ông Ngô Đình Khả giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức giảng dạy thuở ban đầu. Giáo viên gồm những người dạy tiếng Pháp, các thông ngôn và học giả phụ trách chữ Hán. Học sinh có hoàng tử, con em quan lại và cả thường dân. Số lượng dự kiến lúc mới thành lập là 230 người.

Trong sáu năm đầu, 436 học sinh đã hoàn thành việc học và nhận chứng chỉ. Không ít người chỉ học một hoặc hai năm rồi rời trường để làm thư ký, phiên dịch hoặc tìm một công việc phù hợp. Thời gian ấy, biết tiếng Pháp đã mở ra một con đường nghề nghiệp khác với lối học để bước vào khoa cử trước đây.

Năm 1903, ông E. Nordemann được bổ nhiệm làm hiệu trưởng. Đến năm 1905, Quốc Học có 198 học sinh, chia thành 12 lớp. Tháng 6 năm 1907, những kỳ thi lấy chứng chỉ tiểu học và bổ túc song ngữ Pháp – Việt đầu tiên được tổ chức tại Huế.

Các dãy nhà cũ sau nhiều năm sử dụng đã xuống cấp, lại bị hư hại bởi hỏa hoạn và bão. Tháng 5 năm 1915, trường bắt đầu được xây dựng lại. Công trình hoàn thành vào năm 1919, hình thành nên diện mạo gần gũi với Quốc Học mà các thế hệ sau này quen thuộc.

Hai dãy lầu hai tầng nằm đối diện nhau, giữa là một bãi cỏ rộng. Phòng học ở tầng trệt có trần cao, cửa sổ lớn và hành lang dài có mái che. Tầng trên được dùng làm ký túc xá. Phía sau có nhà ăn, nhà bếp, phòng tắm, khu giặt giũ và sân thể thao.

Trang thiết bị dạy học cũng được bổ sung dần. Trường có phòng thí nghiệm Vật lý, Hóa học, phòng mỹ thuật, bản đồ, mô hình và các bộ sưu tập mẫu vật. Thư viện dành cho học sinh có 6.875 cuốn sách, bên cạnh một thư viện riêng của giáo viên.

Đời sống nội trú được tổ chức khá chặt chẽ. Học sinh được chia thành ngoại trú, bán trú và nội trú. Nhà trường có học bổng toàn phần hoặc bán phần dành cho học sinh nghèo. Các trường hợp xin nghỉ vì cưới hỏi, giỗ chạp hay tang lễ trong gia đình đều có quy định cụ thể. Học sinh nội trú đạt kết quả tốt trong tuần mới được ra ngoài vào ngày chủ nhật để thăm nhà.

Cuối thập niên 1920, học sinh ngày càng đông, trường phải xây thêm phòng học. Một tòa nhà nhỏ được hoàn thành năm 1929; tòa thứ hai kịp đưa vào sử dụng trước niên khóa tháng 9 năm 1930.

Nhìn lại chặng đường từ 1896 đến 1930, Quốc Học đã đi từ một dãy doanh trại cũ với những phòng học đơn sơ đến một ngôi trường có thư viện, phòng thí nghiệm, ký túc xá và sân thể thao. Quan trọng hơn, nơi đây đã đào tạo một lớp thanh niên được tiếp xúc với chữ Hán, chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp và khoa học phương Tây ngay trong một thời kỳ xã hội nhiều biến động.

Từ mái trường này, nhiều thế hệ học sinh đã đi vào đời, trở thành nhà giáo, nhà khoa học, nhà văn hóa hoặc dấn thân vào những vận động lớn của đất nước. Mỗi người chọn một con đường, nhưng đều mang theo dấu ấn của những năm tháng từng học bên bờ sông Hương.

Riêng tôi, khi nghĩ về Quốc Học, lịch sử 130 năm ấy thường trở về qua những hình ảnh rất gần: cổng trường, tường đỏ, bóng cây, hành lang và khoảng sân của ba năm 1989–1992, và tất nhiên cả mối tình đầu đầy thơ mộng.

Cô học trò ngày ấy đâu có ngờ rồi mình sẽ rời Huế, sống nhiều năm ở Sài Gòn và sau này sang tận nước Mỹ. Cũng chưa biết có lúc chỉ một bức ảnh ngôi trường cũ thôi đã khiến mình ngồi nhìn thật lâu.

Có lẽ đến khi đi đủ xa, người ta mới hiểu một mái trường đã ở lại trong mình như thế nào.

Quốc Học vẫn bên sông Hương. Tôi thì đã qua tuổi học trò hơn ba mươi lăm năm. Vậy mà nhìn màu tường đỏ thấp thoáng dưới hàng cây, tôi vẫn nhớ mình từng có một quãng thanh xuân ở đó.

Một quãng đời đã xa, nhưng chưa bao giờ cũ.

Lisa La – La Hạnh Thảo

Cựu học sinh Quốc Học Huế, khóa 1989–1992

Viết nhân kỷ niệm 130 năm thành lập Trường Quốc Học Huế

(23/10/1896 – 23/10/2026)

Bài viết mới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button