Ngày về

Đọc “Ngày về” của Duy Phạm, tôi có cảm giác như đang nghe được tiếng đất thở, tiếng thời gian rạn nứt dưới từng con chữ.
Bài thơ không khởi đầu bằng một câu chuyện, mà bằng một định mệnh được nói ra rất khẽ: “mẹ đi lấy chồng về hạ bạn đồng sâu”. Chỉ một dòng thơ, đời người đàn bà đã rẽ sang hướng khác. Một cuộc “đi” nhưng lại được gọi là “về” – về với ruộng đồng, về với phận làm vợ, làm mẹ, về với miền đời không chọn lựa mà phải gánh lấy. Tuổi thiếu nữ vừa kịp được gọi tên đã được xếp lại phía sau, gọn ghẽ như một cơn mưa ngâu đến rồi đi rất nhanh. Không nuối tiếc. Không kêu than. Chỉ có sự chấp nhận âm thầm, thứ chấp nhận đã ăn sâu vào đời sống của những người đàn bà xưa – lặng lẽ, nhẫn nại, và bền bỉ đến mức trở thành số phận.
Ký ức trở về từ khoảnh khắc “đứa con ra đời giữa một buổi chiều đông, bên quê ngoại”. Từ đó, bài thơ hạ thấp góc nhìn, để đời sống hiện ra ở tầm đất, tầm người: dòng sông, cá dặm, cua đồng, khúc ru hời, cánh diều, sắc huyết dụ. Những hình ảnh không cao giọng, không lấp lánh, mà hiện ra đúng như ký ức của một đứa trẻ – gần gũi, thô ráp, và bền bỉ. Chính sự mộc mạc ấy làm nên một tuổi thơ không cần tô vẽ mà vẫn đầy hơi người.
Khi mẹ “xa dần thời gót đỏ như son”, câu thơ chạm đến một tầng rất sâu của đời đàn bà. Cái đẹp không mất vì thời gian, mà vì hy sinh. Gót đỏ phai đi để nhường chỗ cho lam lũ, cho nhọc nhằn nuôi con khôn lớn. Nhịp thơ từ đây chuyển động nhanh hơn, gấp hơn, như nhịp mưu sinh cuốn con người ra khỏi quê nhà. Cánh chim bay xa, nhưng bóng quê thì ngày một gầy đi – gầy vì bom đạn, gầy vì những dấu chân không còn trở lại.
Đến đoạn “tôi về”, bài thơ hạ giọng xuống thấp nhất. Không có đoàn viên, không có mừng rỡ. Chỉ có sự đối diện. Con đường xưa mờ dấu bạn bè. Con sông cạn phù sa. Tuổi thơ hiện ra như một miền không còn chỗ đứng. Những câu thơ đi chậm, rời rạc, như bước chân của người đã đi hết một vòng đời, giờ chỉ còn biết dừng lại để nhìn.
Và rồi, bài thơ khép lại ở một nơi rất yên:
mẹ tôi xưa nằm đợi.
Không bi lụy. Không gào khóc. Chỉ là “giọt lệ khô rơi”, giọt lệ của một người đã khóc đủ lâu trong đời. Tiếng gọi “Mẹ ơi…” được đặt riêng, trơ trọi, không dấu chấm. Như một tiếng gọi không cần hồi đáp, bởi người gọi hiểu rằng mình đã về quá muộn.
“Ngày về” không kể chuyện mất mát. Nó để mất mát tự hiện ra, lặng lẽ và dai dẳng. Đọc xong bài thơ, tôi bị ám ảnh bởi một buồn như đất sau mùa hạn – khô, nặng, và bám rất lâu trong lòng.
Đây là bài thơ phải đọc chậm, và phải đọc một mình. Bởi có những tiếng gọi, chỉ vang lên trọn vẹn nhất khi không còn ai nghe thấy.
Hãy lắng lòng, và cùng đến với
N G À Y V Ề
mẹ đi lấy chồng về hạ bạn đồng sâu
bỏ lại sau lưng thời mưa ngâu thiếu nữ
đẻ đứa con so mẹ về nhà ở cữ
tôi lọt lòng quê ngoại một chiều đông
nơi tôi sinh nằm cạnh một dòng sông
đơm cá dặm cua ngoài đồng mùa lũ
lớn dần lên trên khúc ru hời cũ
cánh diều bay chiều huyết dụ lênh loang
mẹ xa dần thời gót đỏ như son
lam lũ nuôi con lớn khôn bằng vất vả
tung cánh bay khắp miền xa đất lạ
nhịp mưu sinh hối hả từng ngày
chiều nay
tôi về lại nơi đây
quê kiểng vẫn lớn lên trên hao gầy bom đạn
con đường xưa mờ dấu chân bè bạn
như tuổi thơ tôi con sông cạn phù sa
có chỗ nào mà tôi chẳng đi qua
tha thẩn triền đê tiếng chuông chiều ngân nga thả muộn
nhặt lá vàng rơi ghi một thời bão cuốn
lội xuống đồng sâu thửa ruộng hẹp nuôi người
cạn ngày rồi
tôi dừng lại một nơi
giọt lệ khô rơi
mẹ tôi xưa nằm đợi
vạt cỏ khâu chiều hoang hiu vời vợi
thắp nén hương lòng
thổn thức
gọi
Mẹ ơi…!
✒️ d u y p h ạ m
📸 NĐ



