Lược sử chữ quốc ngữ

Có một điều lạ là dường như toàn bộ các nước thuộc châu Á hiện nay chỉ duy nhất Việt Nam là quốc gia sử dụng hệ ngữ La tinh để ghi âm tiếng Việt, tiếng nói của của dân tộc mình.
Có thể nói việc sử dụng mẫu tự La tinh để ghi âm tiếng Việt là một phát kiến quan trọng tạo ra CHỮ QUỐC NGỮ và trở thành một di sản cực kỳ quý báu có ý nghĩa trọng đại đến đời sống và sự phát triển của đất nước.
Nói về CHỮ QUỐC NGỮ đã có rất nhiều tư liệu ghi chép tỉ mỉ về sự hình thành và phát triển hoàn chỉnh cho đến ngày nay và vẫn còn hoàn thiện hơn nữa để phục vụ cho sự phát triển của xã hội.
Trong khuôn khổ của Trang nhà, tôi chỉ xin mạn phép nhắc lại một số điểm quan trọng liên quan đến CHỮ QUỐC NGỮ.
Chữ Quốc ngữ Việt Nam hình thành vào đầu thế kỷ 17, do các giáo sĩ phương Tây (Bồ Đào Nha, Ý, Pháp) thuộc Dòng Tên sáng tạo nhằm Latinh hóa tiếng Việt để truyền đạo Công giáo. Dù Alexandre de Rhodes có công lớn trong việc hệ thống hóa và xuất bản từ điển đầu tiên, nhưng Francisco de Pina mới là giáo sĩ tiên phong xây dựng phương pháp ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh.
Quá trình hình thành và phát triển:
• Mục đích:
Ban đầu, các giáo sĩ cần học tiếng bản xứ để truyền đạo, nên họ dùng chữ Latinh để ghi âm cách phát âm tiếng Việt.
• Người sáng tạo:
Nhiều giáo sĩ Dòng Tên như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, và sau đó là Alexandre de Rhodes đã cùng góp phần xây dựng.
• Dấu mốc quan trọng:
Năm 1651, giáo sĩ Alexandre de Rhodes xuất bản cuốn Tự điển Việt – Bồ – La tại Roma, đặt nền móng vững chắc cho chữ Quốc ngữ.
• Sự hoàn thiện:
Trong nhiều thế kỷ, chữ Quốc ngữ chủ yếu được dùng trong nội bộ giáo hội. Đến cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nó dần được phổ biến rộng rãi, thay thế chữ Hán và chữ Nôm nhờ sự tiện lợi, dễ học.
• Chính thức hóa:
Vua Khải Định (triều Nguyễn) chính thức bỏ kỳ thi Hương, thay thế bằng các kỳ thi sử dụng chữ Quốc ngữ, giúp loại chữ này trở thành văn tự chính thức.
Chữ Quốc ngữ hiện nay là thành quả của quá trình tập thể, kết hợp nỗ lực của các giáo sĩ phương Tây và sự đóng góp của người Việt bản địa qua các thời kỳ.
Địa điểm đầu tiên phát tích chữ Quốc ngữ không nằm ở một vị trí duy nhất mà là một chuỗi các cư sở truyền giáo dọc vùng đất Đàng Trong, trong đó Dinh trấn Thanh Chiêm (Quảng Nam)và Cảng thị Nước Mặn (Bình Định) được giới khoa học công nhận là hai “chiếc nôi” khởi nguồn quan trọng nhất.
1. Dinh trấn Thanh Chiêm và Hội An (Quảng Nam) – Nơi cất tiếng khóc chào đời
• Vị trí: Xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
• Vai trò: Đây là nơi giáo sĩ [Francisco de Pina] (người Bồ Đào Nha) đến cư trú từ năm 1617 và lập giáo đường Phước Kiều vào năm 1619.
• Cơ sở lịch sử: Cha Pina là người phương Tây đầu tiên nói thạo tiếng Việt và bắt đầu xây dựng phương pháp ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh. Ông cũng trực tiếp mở trường dạy tiếng Việt cho các giáo sĩ khác (trong đó có Alexandre de Rhodes). Do đó, Thanh Chiêm được xem là nơi khai sinh và đặt nền móng lý thuyết đầu tiên cho chữ Quốc ngữ.
2. Cảng thị Nước Mặn (Bình Định) – Nơi “phôi thai” và thực nghiệm
• Vị trí: Huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
• Vai trò: Giáo đoàn tại Nước Mặn được thành lập vào năm 1618 bởi các linh mục Francesco Buzomi, Francisco de Pina và Cristoforo Borri.
• Cơ sở lịch sử: Nước Mặn là cư sở truyền giáo đầu tiên nơi các giáo sĩ sống, hoạt động lâu dài và cùng với các giáo dân bản địa thực nghiệm, hệ thống hóa việc phiên âm tiếng Việt. Các bản báo cáo viết tay giai đoạn 1618–1620 tại đây chứng minh những chữ Quốc ngữ sơ khai nhất đã được sử dụng.
Các địa danh hoàn thiện liên quan:
• Nhà thờ Mằng Lăng (Phú Yên): Nơi đang lưu giữ cuốn sách chữ Quốc ngữ đầu tiên được in (Phép giảng tám ngày, in năm 1651 tại Roma).
• Tiểu chủng viện Làng Sông (Bình Định): Nơi đặt một trong những nhà in sách chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, đóng vai trò truyền bá rộng rãi loại chữ này ra xã hội.
Những người Việt đóng vai trò là người cộng tác bản xứ cùng sáng tạo, sau đó trở thành những hạt nhân đầu tiên sử dụng và truyền bá chữ Quốc ngữ ra cộng đồng. Quá trình này chia làm hai giai đoạn lịch sử rõ rệt
Giai đoạn 1: Những cộng tác viên thế kỷ 17 (Giai đoạn hình thành)
Các giáo sĩ phương Tây không thể tự ký âm chính xác nếu thiếu sự hướng dẫn về thanh điệu và ngữ nghĩa từ người bản xứ. Những người Việt đầu tiên tham gia gồm:
• Thầy giảng Phêrô: Người thanh niên giáo dân phụ tá cho giáo sĩ Francisco de Pina. Năm 1618, ông đã cùng cha Pina dịch cuốn Kinh Lạy Cha và các kinh căn bản sang tiếng Việt bằng chữ Latinh. Đây là văn bản Quốc ngữ đầu tiên có sự đóng góp trực tiếp của người Việt.
• Thầy giảng Ignacio: Người hỗ trợ Alexandre de Rhodes trong việc chỉnh sửa từ vựng và thanh điệu tiếng Việt tại Đàng Trong và Đàng Ngoài.
• Các phân chi, sĩ phu theo đạo Công giáo: Những người đầu tiên học cách viết mới để chép kinh sách, tạo thành cộng đồng nhỏ sử dụng chữ Quốc ngữ đầu tiên trong lịch sử.
Giai đoạn 2: Những trí thức tiên phong thế kỷ 19 – 20 (Giai đoạn truyền bá rộng rãi)
Khi chữ Quốc ngữ bước ra khỏi phạm vi tôn giáo để trở thành chữ viết toàn dân, các học giả người Việt đóng vai trò quyết định:
• Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký): Người đặt nền móng vững chắc cho nền báo chí tiếng Việt. Ông làm chủ bút tờ Gia Định báo (1865) – tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ, giúp loại chữ này phổ biến trong đời sống xã hội.
• Huỳnh Tịnh Của: Tác giả cuốn từ điển hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên do người Việt biên soạn mang tên Đại Nam quấc âm tự vị (1895–1896), giúp chuẩn hóa từ vựng tiếng Việt.
• Nguyễn Văn Vĩnh: Nhà báo, nhà dịch thuật lỗi lạc đầu thế kỷ 20 với câu nói nổi tiếng: “Chữ Quốc ngữ là hồn của nước”. Ông dịch hàng loạt tác phẩm văn học Pháp sang chữ Quốc ngữ, cổ động toàn dân học loại chữ này.
• Phan Châu Trinh và phong trào Đông Du, Duy Tân: Các nhà cách mạng cổ động việc mở trường học chữ Quốc ngữ để nâng cao dân trí, xem đây là công cụ canh tân đất nước.
• Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ (1938): Do các nhân sĩ tri thức như Nguyễn Văn Tố, Phan Thanh lập ra. Hội đã mở hàng nghìn lớp học miễn phí, giúp hàng vạn người dân nghèo thoát nạn mù chữ trước năm 1945.
Chữ Quốc ngữ đóng vai trò là một trong những nhân tố quyết định thay đổi diện mạo lịch sử, văn hóa và tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam.
1. Vai trò lịch sử và xã hội
• Xóa mù chữ, nâng cao dân trí: Nhờ hệ thống chữ cái Latinh dễ học, dễ viết hơn chữ Hán và chữ Nôm, thời gian biết chữ của người dân giảm từ vài năm xuống còn vài tháng, giúp hàng triệu người thoát nạn mù chữ một cách nhanh chóng.
• Công cụ giải phóng dân tộc: Trong thế kỷ 20, các nhà cách mạng đã dùng chữ Quốc ngữ để xuất bản báo chí, truyền đơn, sách giáo khoa, trở thành vũ khí sắc bén để tuyên truyền tinh thần yêu nước và tổ chức kháng chiến.
• Văn bản hành chính quốc gia: Chữ Quốc ngữ thay thế hoàn toàn chữ Pháp và chữ Nho để trở thành chữ viết chính thức duy nhất của nước Việt Nam độc lập trong mọi văn bản luật pháp, hành chính từ năm 1945 đến nay.
2. Ý nghĩa văn hóa và giáo dục
• Thống nhất tiếng nói và chữ viết: Chữ Quốc ngữ giúp cố định hóa và chuẩn hóa cách phát âm, ngữ pháp, từ vựng tiếng Việt trên toàn quốc, thu hẹp khoảng cách giao tiếp giữa các vùng miền.
• Bảo tồn và phát triển tiếng Việt: Loại chữ này vừa giữ được bản sắc âm điệu tinh tế của tiếng Việt bản địa, vừa có khả năng linh hoạt tạo từ mới, phiên âm từ mượn để theo kịp sự phát triển của khoa học, kỹ thuật hiện đại.
• Hiện đại hóa nền văn học: Sự ra đời của chữ Quốc ngữ khai sinh ra nền báo chí, văn xuôi, tiểu thuyết hiện đại và thơ mới Việt Nam, giúp văn học thoát khỏi tính quy phạm nghiêm ngặt của văn học phong kiến cổ.
3. Ý nghĩa giao lưu quốc tế
• Cầu nối hội nhập toàn cầu: Việc sử dụng hệ chữ cái Latinh giúp người Việt dễ dàng tiếp cận các ngôn ngữ quốc tế (tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha) và các thành tựu khoa học kỹ thuật phương Tây.
• Giới thiệu văn hóa Việt Nam: Chữ Quốc ngữ đơn giản hóa việc học tiếng Việt cho người nước ngoài, thúc đẩy quá trình quảng bá văn hóa, lịch sử và hình ảnh Việt Nam ra thế giới.
Trên đây là tóm tắt lược sử CHỮ QUỐC NGỮ với những thông tin cần thiết và cơ bản nhất giúp các bạn khái quát được về lịch sử hình thành và phát triển của chữ Quốc Ngữ của Nước nhà.
Quê hương tôi rất gần với đô thị Nước Mặn, một trong hai cái nôi phát tích chữ Quốc Ngữ. Trong một lần về thăm lại đô thị Nước Mặn, tôi cám cảnh viết một bài thơ ngắn KHỞI NGUỒN SÔNG CHỮ . Bài thơ có in trên TẠP CHÍ VĂN NGHỆ BÌNH ĐỊNH
K H Ở I N G U Ồ N S Ô N G C H Ữ
Xuôi về Nước Mặn* chiều nay
đô thị ấy
bỗng
như ngày xanh xưa.
Dưới thuyền
trên phố
bán mua
khách xa phương đến
người đua nhau về.
Lửa ai nhóm
giữa mịt mờ?
khởi nguồn sông chữ ngược bờ ngàn dâu.
Đất lành
muối mặn
nặng sâu
về nơi phát tích ghi câu ân tình.
Chốn xưa
trầm tích
địa linh
hồn thiêng con chữ mang hình Nước non…!
d u y p h ạ m
* Nơi phát tích chữ Quốc ngữ
( Đã đăng trên tạp chí VNBĐ số 35/ tháng 3/ 2016)



