Cuộc hồi hương đầy chông gai và nghĩa tình

Chuyện bây giờ mới kể :
Ngày 01/05/1975 đang lang thang ở Ngã 7 Saigon ( Bến xe đi các tỉnh ) để hỏi phương tiện về Huế tìm vợ con và gia đình .
Bỗng nghe tiếng kêu : Khương , Khương …. vang ra từ một quán cà phe gần đó . Một người Chị bà con bạn Dì bên vợ tôi đang vẫy tay gọi.
Chị LAN lớn hơn tôi khoảng 9-10 tuổi , Chị lập gia đình rời Huế và theo chồng vào Saigon sinh sống từ năm 1965. Anh là một sĩ quan làm việc ở Phòng 2/BTTM/QLVNCH , gia đình ở trong một trại gia binh do đơn vị cấp ở đường Tô Hiến Thành Q10.
Sau những câu chào hỏi tôi được biết sau cái ngày mất nước vì lo sợ sự trả thù và “ tắm máu “ như năm Mậu Thân 1968, nên Anh đã lánh về quê nội ở Long Xuyên. Chị và 6 đứa con vẫn bám trụ ở căn nhà tại trại gia binh, mua bán xăng dầu lây lấc qua ngày , nghe ngóng tình hình và tiếp tế cho Anh.
Được biết tôi cũng mất tin tức với vợ con sau khi Đà Nẳng thất thủ đang dọ giẫm tìm kiếm phương tiện ra Huế để xem tin tức vợ con thế nào !
Chị ghi vội cho tôi cái địa chỉ nhà ở trại Đào Bá Phước và nói :
– Để Chị tìm xe quen chở hàng đi miền trung gửi cho em ra , vài hôm nữa em ghé nhà sẽ có kết quả ( nhưng đừng lâu quá ) vì Chị cũng không biết lúc nào bị đuổi ra khỏi cái nơi mà Anh Chị đã sống ở đó 10 năm qua .
Tôi như người đang đuối nước , bắt được chiếc phao cứu sinh , tôi hẹn Chị 3 ngày sau chuẩn bị xong tôi sẽ ghé đến nhà
. Đúng hẹn với vài bộ đồ “ sê vin “ cùng mấy ngàn “ tiền Saigon “ tôi đến nhà và được Chị thông báo là đã có xe, xe người quen cũng là người Huế nhưng vô Saigon lập nghiệp lâu rồi , chuyên vận chuyển hàng hóa cho thương buôn chờ thực phẩm và nhu yếu phẩm cho các tỉnh miền trung mấy chục năm nay . Hiện đang chờ thương buôn gom đủ hàng đầy xe sẽ khởi hành ( không biết bao lâu ) vì còn phải chờ giấy phép của Ủy ban quân quản . Tôi cứ yên tâm ở nhà trông nhà và 5 cháu nhỏ, còn Chị và cháu lớn độ 11-12 tuổi phải lo chạy quanh kiếm tiền . Ban đầu tôi cũng lo việc ăn ở của mình sẽ thêm gánh nặng cho Chị , tôi có nhả ý đưa cho Chị một ít tiền gọi là “ góp gạo “ thì bị Chị la cho :
– Chị em trong nhà cả, chú cứ an tâm ở đó chờ ngày lên đường , Chị buôn xăng lậu nên mỗi ngày kiếm cũng khá khá, dành dụm tiền ra Huế lo cho Mệ và gia đình . Rảnh rỗi muốn kiếm tiền cứ lấy chiếc 67 của Anh mà chạy xe ôm .
Cũng cần nói thêm Chị Lan và vợ tôi là chị em bạn Dì, Ba Má của chị vẫn đang ở Huế sát cạnh nhà tôi , sau tháng 3/1975 từ ngày mất Huế chị cũng không có tin tức gì về gia đình của mình. Năm 1973-1974 khi tôi được đơn vị cho đi học CC2 tại Trường Truyền Tin Vũng Tàu , vợ tôi có về tá túc cùng Anh Chị một thời gian .
Không chịu ăn ở không , sau 3 ngày tôi hỏi mượn chiếc Honda 67 của Anh để kiếm tiền .
Phải 2 tuần sau xe mới có đủ hàng , nên thời gian này tôi cố gắng kiếm tiền để ra Huế, đồng thời cũng thăm viếng một số chiến hữu và bạn bè thời niên thiếu còn ở quanh Saigon .
Mãi đến chiều 16/05/1975 Chị Lan mới cùng tôi ra Hàng Xanh nhà Ông Bà Thanh là Ba Mẹ người bạn của Chi Lan , trình bày việc thất lạc gia đình và xin cho tôi được quá giang cùng xe của Ông Bà về Huế .
Biết hoàn cảnh khó khăn của người lính sau ngày mất nước , ông bà Thanh vui vẻ nhận lời và còn gợi ý cho Chú Năm tài xế là nếu trên đường đi có hàng hóa dọc đường thì cho tôi bốc vác kiếm thêm thu nhập .
Tối hôm đó xe rời Saigon khoảng 8-9 giờ tối chạy loanh quanh lấy hàng cho đến khi ra đến Long Khánh là 1h sáng, trên xe phía trước ca bin là Chị Hoa chủ xe bạn chị Lan , một O chủ hàng và chú Năm tài xế , còn phía sau xe tôi và anh An lơ xe cùng 3 anh chị chủ hàng được bố trí ngủ nghĩ trên những bao gạo được chất đầy 3 khoang xe, khoang còn lại gồm đủ loại hàng hoá bột ngọt, nước mắm, xì dầu, đường sửa …..
Đêm đó xe ra khỏi Long Khánh đến Rừng Lá thì dừng lại nghỉ để cho Chú Năm ngủ lấy sức ( xe chỉ duy nhất mình Chú Năm là tài xế vừa là thợ máy ) vì vậy ngày đi đêm xe và người đều phải nghĩ.
Sau những ngày chờ đợi và lao động chân tay mệt mỏi , đêm đó tôi có một giấc ngủ thật ngon . Thức dậy bởi lời kêu của Chú Năm :
– Dậy xuống uống cà phê Khương ơi.
Khi tôi xuống đến phía sau đít xe ( nơi căng tấm bạt để 2 cái ghế bố nhôm ) một dành cho Chú Năm và một dành cho Chị Hoa chủ xe nghĩ ngủ thì cf và các món ăn sáng gồm bánh mỳ và cá hộp đã được bày biện trên chiếc chiếu cho cả 8 người trên xe rồi . Chị Hoa tuy là chủ xe mà cũng là người lo cho cả nhà xe việc ăn uống hằng ngày.
Với bản tính đôn hậu Chị cười và buông câu nói :
– Tối qua mệt mỏi nên mọi người ngủ ngon quá hí, mau cf và lót lòng rồi khởi hành cho mát, chứ mặt trời lên cao rồi đó .
Hôm đó xe đi rất chậm vì phải qua những khúc đường rất xấu, có những khúc bị bom đạn cày nát, ổ gà ổ voi vừa được lấp tạm đá và đất cho xe lưu thông tạm thời thôi. Lại còn phải qua nhiều trạm kiểm soát được bổ trí dầy đặc hầu như 50-70 km một trạm !!!
( còn tiếp )
NGHĨA TÌNH MỘT CHUYẾN ĐI :
Phần cuối :
Với đoạn đường nhiều chông gai Saigon-Huế hơn 1000km phải qua nhiều đèo núi, đường sá vừa bị chiến tranh tàn phá hư hỏng, nhiều cây cầu bị giật sập, nhiều trạm kiểm soát được dựng lên để kiểm soát sự đi lại của dân chúng…
Phải trải qua 4 ngày đêm xe mới vượt ì ạch khỏi đèo Hải Vân vào địa phận Huế chiều 20/05/1975. Trong mấy ngày cùng ăn ở với Chú Năm tài xế, Chị Hoa , mấy O Chú anh chị bạn hàng trên xe, duy nhất chỉ có tôi là người lính vừa rời xa chiến trường trong nổi buồn vô tận, lo lắng cho số phận của vợ con và gia đình, hầu hết còn lại là những thương nhân đã từng trải việc đi lại suốt dọc chiều dài giữa Saigon với các tỉnh miền trung. Tôi cũng là người khách quá giang xe mà không phải trả tiền, một lơ xe bất đắc dĩ và hẳn nhiên cũng là một thành niên luôn được mọi người nhờ vã khi cần phải làm việc gì đó nặng nhọc.
Chú Năm tài xế xem tôi như con cháu, thỉnh thoảng quăng cho tôi vài điều thuốc Ruby QTV hay ca cà phê Chú đang uống dang dở.
Chị Hoa và anh chị bạn hàng trên chuyến đi xem tôi như là đứa em trong nhà, tới giờ cơm là kêu Khương ơi í ới …
Xe đến Huế và thứ tụ lần lượt đi đến nhà trả hàng cho các O Chú anh chị, tôi cùng anh An lơ xe khuân vác từng bao gạo, thùng bột ngọt, két xì dầu thận trọng đến tận kho cho các anh chị chủ hàng. Trước lúc chia tay riêng tôi đều được các anh chị dúi vào tay hay túi áo món tiền nhỏ nhỏ với lời căn dặn : cầm đi mang về lo cho vợ con. Chị Hoa cũng vậy dù tôi đã tìm mọi cách từ chối và cảm ơn chuyện Ông Bà Thanh và Chị đã cho tôi quá giang xe ra Huế mà không phải tốn tiền. Nhưng Chị cũng cương quyết bảo tôi thuê xe chở về cho gia đình 1 bao gạo 50kg kèm mấy chai nước mắm và không quên nhét vào túi xách của tôi một nhúm tiền với câu nói đã theo tôi suốt 49 năm qua :
– Em cứ nhận chở về cho vợ con và gia đình, đừng nghĩ ngợi gì cả cứ xem là quà tặng của Chị dành cho người lính thua trận trở về sau chiến tranh với 2 bàn tay trắng. Những ngày tháng sắp tới còn khổ lắm em ơi !
– Thật sự cũng nhờ ân tình của Chị Hoa và bà con trên chuyến đi đó, tôi sau khi gặp lại vợ con và gia đình, đã tránh được cái khốn khó trong suốt mấy tháng sau đó, những ngày phải đi trình điện Chính quyền, 7 ngày học tập cải tạo tại địa phương, đi đào thuỷ lợi… và những ngày tháng dài thất nghiệp.
–
Hôm nay ngồi nhớ và viết lại những sự việc xảy ra cho tôi cách đây đúng 49 năm trong niềm xúc động bồi hồi với ân huệ và nghĩa tình mà Chị Lan, Ông Bà Thanh , Chú Năm tài xế ( nay đã quy tiên ) Chị Hoa nay đang định cư cùng con cháu ở Australia, mấy O Chú và anh chị bạn hàng cùng đi trên chuyến xe ngày hôm đó, Anh An lơ xe… nay không biết còn hay mất . Tôi luôn tạc dạ ghi lòng những tình cảm mà mọi người đã cư xử với tôi như người thân thuộc trong 4 ngày trung tuần tháng 5 năm đó.
Cầu mong hương linh Ông Bà Thanh, Chú Năm tài xế trên cao hãy an nghĩ, Chị Hoa và mấy O Chú anh chị còn lại luôn mạnh khỏe sống vui bên gia đình và con cháu. Mãi mãi ân tình của quý vị tôi sẽ luôn ghi nhớ, SỐNG ĐỂ DẠ CHẾT MANG THEO.
Huế Viết xong lúc 3h sáng ngày mồng 03/05/2024.



