Nguyễn Du : tiếng khóc hai trăm năm còn động dưới mái đầu

Có những nhà thơ đi qua lịch sử như một bóng mát, nhưng cũng có những bậc vĩ nhân mà cuộc đời và trang viết của họ là một vết thương rỉ máu, gánh gồng cả nỗi đau của một thời đại. Nguyễn Du là một người như thế. Hơn hai thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày bậc đại thi hào dân tộc gửi nắm xương tàn vào lòng đất mẹ, dải đất Tiên Điền bên dòng sông Lam vẫn bảng lảng một màu sương khói cũ. Nhưng lật mở lại những trang “Truyện Kiều”, những vần “Đoạn trường tân thanh” hay những bài chữ Hán u uẩn, người ta bỗng nhận ra tiếng khóc của Tố Như không thuộc về quá khứ. Đó là tiếng hoen rỉ của định mệnh, là tiếng kêu xé lòng về thân phận con người chịu khúc xạ qua lăng kính của một trái tim mang tầm vóc nhân loại.
*. Tiên Điền, Thăng Long và Nửa Đời Phiêu Bạt: Khúc Quanh Của Một Vận Mệnh
Để hiểu được cái sâu thẳm trong văn chương Nguyễn Du, không thể nhìn ông như một học giả ngồi trong tháp ngà quy báu, mà phải nhìn ông từ những dâu bể của cuộc đời. Bản thân cuộc đời Nguyễn Du chính là một cuốn phóng sự dài tập, đầy rẫy những biến động dữ dội của lịch sử cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX.
Sinh ra tại kinh thành Thăng Long hoa lệ, trong một gia đình đại quý tộc vào bậc nhất lúc bấy giờ – họ Nguyễn ở Tiên Điền (Hà Tĩnh), thân phụ là tể tướng Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Du đã trải qua những năm tháng tuổi thơ êm đềm nhung lụa. Thế nhưng, “đỉnh cao danh vọng” ấy sụp đổ quá nhanh. Chưa đầy mười tuổi, ông mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cơn lốc xoáy kinh hoàng của thời đại – cuộc nội chiến giữa các tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh, Tây Sơn rồi đến nhà Nguyễn – đã đánh tan nát gia tộc hiển hách ấy.
Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai lúc sinh thời từng nhận định:
“Nếu Nguyễn Du không sống vào cái thời đại bão táp ấy, và nếu bản thân ông không chịu đựng những cay đắng của một kẻ phong trần, chúng ta có thể có một ông quan thượng thư mẫn cán, nhưng nước Việt sẽ mất đi một đại thi hào.”
Mười năm lưu lạc ở quê vợ Thái Bình (“mười năm gió bụi”), rồi những năm tháng lẩn khuất ở quê nhà Tiên Điền dưới chân núi Hồng Lĩnh, Nguyễn Du đã sống cuộc đời của một người dân thường đúng nghĩa. Ông nếm trải cái đói, cái rét, chứng kiến cảnh xóm làng bị tàn phá, nghe tiếng khóc của những đứa trẻ mồ côi và những người mẹ mất con trong loạn lạc. Chính mười năm “vô sản hóa” bất đắc dĩ này đã cứu Nguyễn Du ra khỏi tư duy chật hẹp của giai cấp quý tộc. Ông không nhìn cuộc đời bằng đôi mắt của một kẻ ban ơn, mà nhìn bằng ánh mắt của người trong cuộc, một kẻ cùng khổ nếm trải đủ mùi trần ai.
Bước ngoặt lớn tiếp theo là khi ông miễn cưỡng ra làm quan cho nhà Nguyễn. Từ một kẻ “tóc bạc ngẩng đầu nhìn bảng lảng”, Nguyễn Du được bổ làm tri huyện, rồi thăng dần lên Cần chánh điện học sĩ, và hai lần được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Những chuyến đi sứ, đặc biệt là chuyến đi năm 1813, đã mở rộng biên độ tầm nhìn của ông. Đi qua những tầng lớp địa ngục của xã hội phong kiến Trung Hoa, đối thoại với những linh hồn quá khứ qua các di tích lịch sử, tư duy triết học và nhân sinh của Nguyễn Du đã đạt đến độ chín muồi, kết tinh thành một thứ chủ nghĩa nhân đạo mênh mông, vượt thoát khỏi biên giới quốc gia.
* Gia Tài Chữ Nghĩa: Từ Cõi Lòng U Uẩn Đến Tiếng Kêu Xé Rách Khắp Nhân Gian
Gia tài văn học của Nguyễn Du là một di sản khổng lồ, được viết bằng cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, thể hiện một tư duy nghệ thuật lưỡng tính độc đáo: vừa bác học cổ điển, vừa đậm đà phong vị bình dân.
Về chữ Hán, ông để lại ba tập thơ lớn với tổng cộng 249 bài: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục. Nếu như Thanh Hiên thi tập là tiếng thở dài của một cái tôi cô độc, bế tắc trong những năm tháng lánh nạn, thì Bắc hành tạp lục lại là cuốn ký sự bằng thơ sắc sảo nhất về xã hội phong kiến. Ở đó, Nguyễn Du không ca ngợi những đền đài miếu mạo nguy nga của phương Bắc, ông nhìn vào những phận người bên lề lịch sử: một mẹ già cùng ba đứa con nhỏ rách rưới ăn xin nơi quán trọ (Sở kiến hành), một người gảy đàn gầy gò cô độc ở Long Thành (Long Thành cầm giả ca).
Thế nhưng, đỉnh cao chói lọi nhất, tác phẩm đưa tên tuổi Nguyễn Du vượt ra khỏi cõi bờ bờ cõi Việt Nam chính là Đoạn trường tân thanh – mà nhân dân lao động vẫn gọi bằng cái tên trìu mến: Truyện Kiều.
“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
Được phóng tác từ cuốn tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), nhưng qua bàn tay phù thủy của Nguyễn Du, tác phẩm đã có một cuộc tái sinh ngoạn mục. Từ một câu chuyện tài tử giai nhân mang tính chất giải trí, Nguyễn Du đã biến nó thành một khúc đại ca hỷ kịch và bi kịch về thân phận con người.
Hoàn cảnh sáng tác của Truyện Kiều cho đến nay vẫn là một ẩn số kích thích các nhà nghiên cứu, nhưng phần lớn đồng thuận rằng tác phẩm được viết sau khi ông đi sứ Trung Quốc về, hoặc trong những năm tháng ẩn cư tại Hà Tĩnh. Giá trị nội dung của Truyện Kiều nằm ở hai trụ cột lớn: Giá trị hiện thực nghiêm khắc và Giá trị nhân đạo sâu sắc.
Nguyễn Du đã vẽ nên một bức tranh xã hội phong kiến thối nát, nơi đồng tiền lật đổ mọi giá trị đạo đức, nơi công lý bị bóp nghẹt bởi những bàn tay phong kiến như Hồ Tôn Hiến, và những kẻ lưu manh như Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lộng hành.
Về mặt nghệ thuật, Truyện Kiều là đỉnh cao mẫu mực của ngôn ngữ văn học dân tộc. Thể thơ lục bát – vốn là di sản của ca dao, dân ca – đã được Nguyễn Du nâng tầm lên thành một thứ ngôn ngữ nghệ thuật điêu luyện, giàu chất triết lý nhưng lại vô cùng tự nhiên. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của ông đạt đến mức thần vi diệu:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh khó vui đâu bao giờ”
Bên cạnh Truyện Kiều, không thể không nhắc đến Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) viết bằng chữ Nôm theo thể song thất lục bát. Đây là một tác phẩm độc nhất vô nhị trong văn học trung đại, nơi lòng thương người của Nguyễn Du không còn giới hạn ở một giai cấp, một số phận mà trải rộng ra toàn bộ cõi nhân gian, đến cả những linh hồn cô độc, bơ vơ không nơi nương tựa.
* Tầm Vóc Bậc Thầy: Người Định Hình “Khuôn Vàng Thước Ngọc” Cho Tiếng Việt
Trước Nguyễn Du, tiếng Việt và thơ Nôm đã có những bước tiến dài với Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, hay Đoàn Thị Điểm. Tuy nhiên, phải đến Nguyễn Du, tiếng Việt mới thực sự rũ bỏ được cái mác “nôm na mách qué” để sánh ngang, thậm chí có phần uyển chuyển hơn cả Hán dịch.
Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Du là sự hòa quyện tuyệt vời giữa tính triết lý sâu sắc của Nho – Phật – Đạo và trái tim nhạy cảm mang tinh thần lãng mạn chủ nghĩa. Ông không giáo điều như các nhà nho chính thống. Ông nhìn cuộc đời qua lăng kính của “chữ Tình”. Đối với Nguyễn Du, “chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”.
Nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng viết một câu kinh điển:
“Từ xưa đến nay, người Việt Nam ta có thể khác nhau về quan điểm chính trị, về nhân sinh quan, nhưng hễ là người Việt Nam thì ai cũng yêu Truyện Kiều, ai cũng thấy tâm hồn mình có một phần trong đó.”
Nguyễn Du đã mang đến cho văn học nước nhà một làn gió mới: Chủ nghĩa nhân văn tự ý thức. Lần đầu tiên trong văn học, người phụ nữ – đặc biệt là người phụ nữ có vết nhơ về nhân phẩm theo quan niệm phong kiến (như kỹ nữ, ca nhi) – được đặt vào vị trí trung tâm của sự trân trọng. Ông không phán xét Thúy Kiều bằng lăng kính trinh tiết hẹp hòi, ông nhìn nàng bằng tình yêu, bằng sự thấu cảm cho một tài năng bị vùi dập. Đóng góp lớn nhất của Nguyễn Du cho thi ca Việt Nam chính là việc ông đã định hình một “chuẩn mực cổ điển” cho ngôn ngữ dân tộc, biến tiếng Việt thành một vũ khí nghệ thuật sắc bén, có khả năng diễn tả những rung động tinh vi nhất của tâm hồn con người.
* Sức Sống Xuyên Thế Kỷ Và Những Góc Nhìn Đương Đại
Hơn hai trăm năm trôi qua, di sản của Nguyễn Du không nằm yên trong các viện bảo tàng hay các thư viện phủ bụi dày. Nó sống một đời sống sống động, len lỏi vào từng huyết mạch của văn hóa Việt Nam đương đại.
Trong hệ thống giáo dục, Truyện Kiều và các tác phẩm chữ Hán của Nguyễn Du luôn là trục xương sống của chương trình Ngữ văn phổ thông. Tuy nhiên, sức sống của di sản Nguyễn Du không dừng lại ở những bài giảng. Trong thế kỷ XXI, chúng ta chứng kiến một làn sóng “tái sinh” Truyện Kiều dưới nhiều hình thức nghệ thuật mới: từ sân khấu cải lương, chèo, đến vũ kịch, hội họa và điện ảnh. Các nghệ sĩ trẻ ngày nay không nhìn Nguyễn Du như một tượng đài xơ cứng, họ tìm thấy ở ông những chất liệu mang tính thời đại để đối thoại với công chúng hôm nay.
Tuy nhiên, xung quanh Nguyễn Du và tác phẩm của ông chưa bao giờ thiếu những cuộc tranh luận học thuật nảy lửa. Từ đầu thế kỷ XX, cuộc tranh biện nổi tiếng giữa một bên là Phạm Quỳnh (với câu nói cực đoan: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”) và một bên là Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng (những nhà nho yêu nước bài bác Truyện Kiều vì cho rằng nó mang tính chất “dâm thư”, làm nản chí anh hùng) đã tốn không biết bao nhiêu mực của giới trí thức.
Ở góc nhìn đương đại, giới nghiên cứu lại đặt ra những câu hỏi mang tính nữ quyền luận (Feminism) hay hậu hiện đại: Liệu Thúy Kiều có thực sự là nạn nhân hoàn toàn thụ động của chế độ phong kiến? Hay hành động bán mình chuộc cha chính là một sự lựa chọn mang tính chủ thể đầy mạnh mẽ? Hay góc nhìn của Nguyễn Du về số phận có phải là sự bất lực mang tính định mệnh luận của tư tưởng “tài mệnh tương đố”? Chính những cuộc tranh luận không hồi kết này là minh chứng rõ nhất cho tầm vóc của một tác phẩm tầm cỡ thế giới: nó liên tục sinh thủy, liên tục gợi mở những vỉa tầng ngữ nghĩa mới cho từng thế hệ người đọc.
* Lời Kết: Ngọn Hải Đăng Giữa Biển Khổ Nhân Gian
Năm 1820, Nguyễn Du lặng lẽ nằm xuống tại Huế trong một trận dịch tả khủng khiếp, không trăn trối một lời, chỉ đưa tay ra hiệu cho người nhà xem tay chân đã lạnh chưa, rồi nhắm mắt. Ông ra đi thanh thản, nhưng nỗi lo âu về hậu thế thì đã được ông gửi gắm từ trước đó trong bài thơ Độc Tiểu Thanh ký:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khóc Tố Như “
*( không biết ba trăm năm lẽ nữa ,
thiên hạ là ai người khóc Tố Như )*
Đại thi hào đã lo xa quá. Không cần đợi đến ba trăm năm, ngay từ khi ông nằm xuống, và cho đến tận hôm nay, hàng triệu triệu tâm hồn người Việt và bạn bè quốc tế vẫn đang “khóc” cùng ông, cười cùng ông qua từng trang sách. Năm 1965, Hội đồng Hòa bình Thế giới đã công nhận Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới – một sự bảo chứng đanh thép cho tầm vóc toàn cầu của ông.
Nguyễn Du không chỉ là nhà thơ của một thời đại, ông là nhà thơ của muôn đời. Chừng nào con người còn biết đau khổ trước bất công, chừng nào cái đẹp còn bị vùi dập và chừng nào tiếng Việt còn vang lên trên dải đất hình chữ S này, thì chừng đó, ngọn hải đăng tư tưởng và trái tim nhân ái của Nguyễn Du vẫn sẽ tiếp tục soi sáng, sưởi ấm cho những phận người vượt qua dâu bể cuộc đời.
Biên khảo : 3T



