Chân dung người nổi tiếng

Nguyễn Xuân Khoát: Cánh chim đầu đàn và tiếng đàn bác học của nền tân nhạc Việt Nam

Có những con người sinh ra như để gánh trên vai sứ mệnh mở đường. Trong dòng chảy miên man của âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX, nếu coi Tân nhạc là một đại dương cuộn sóng với muôn vàn giai điệu tân kỳ, thì nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát chính là ngọn hải đăng cắm sâu vào lòng đất mẹ, vừa soi đường cho những bước chân đầu tiên, vừa giữ chặt cái “gốc” văn hóa dân tộc. Người ta gọi ông là Anh cả của nền Tân nhạc, là Nhạc sĩ Bác học, nhưng trên hết, ông là một linh hồn thuần Việt – người đã dùng tư duy âm nhạc phương Tây để trả lại vinh quang và sức sống muôn đời cho tiếng ru, điệu ca trù, ca xướng dân gian.

I. THỜI THƠ ẤU VÀ HÀNH TRÌNH ĐẾN VỚI TỰ DO GIAI ĐIỆU

1. Bút danh và xuất thân

Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát sinh ngày 11 tháng 2 năm 1910 tại Hà Nội (quê gốc ở làng Ngô Xá, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương) và mất ngày 27 tháng 3 năm 1993 tại Hà Nội. Trong suốt sự nghiệp nghệ thuật sáng chói của mình, ông dùng chính tên thật như một sự khẳng định bản ngã tự tin và chân thành trước công chúng.

Sinh ra trong một gia đình công chức nhỏ nhưng giàu truyền thống văn hóa xứ Đông, ngay từ thuở thiếu thời, Nguyễn Xuân Khoát đã tắm mình trong những làn điệu dân ca, tiếng đàn bầu, đàn nguyệt và đặc biệt là nhịp nhịp phách, tiếng trống chầu của Ca trù.

2. Dấu mốc cuộc đời và con đường âm nhạc

Âm nhạc phương Tây dội vào Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX qua các bản nhạc Pháp, các dàn nhạc kèn đồng. Nguyễn Xuân Khoát tiếp cận với âm nhạc hàn lâm qua chiếc đàn Violin và Kontrabass (Đại trung cầm).

Những năm 1930: Ông chơi nhạc cho các ban nhạc khách sạn, phòng trà lớn ở Hà Nội như khách sạn Metropole. Đây là giai đoạn ông rèn luyện tư duy âm nhạc phương Tây chuyên nghiệp, nắm vững hòa thanh và đối điểm.

Năm 1942: Ông tham gia nhóm Xuân Thu Nhã Tập cùng các thi sĩ, họa sĩ tên tuổi như Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Xuân Sanh. Nhóm hướng tới việc tìm kiếm những giá trị nghệ thuật thuần khiết, sáng tạo và mang tính triết học cao.

Thời kỳ Kháng chiến (1945 – 1954): Theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông xếp lại những bản đàn lãng mạn, lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến. Từ một nghệ sĩ tư sản thành thị, ông hòa mình vào đời sống công nông binh.

Giai đoạn sau 1954: Ông trở về Hà Nội, giữ vị trí Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam (từ năm 1957 đến năm 1983)

II. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TẦM ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI NỀN TÂN NHẠC

Tân nhạc Việt Nam ra đời trong bối cảnh cuộc giao thoa văn hóa Đông – Tây đầy biến động dưới thời Pháp thuộc. Đứng trước làn sóng “Âu hóa”, nhiều nhạc sĩ thời kỳ đầu rơi vào hai cực: hoặc mô phỏng hoàn toàn giai điệu phương Tây, hoặc chỉ đơn thuần đặt lời Việt trên nền nhạc ngoại.

Nguyễn Xuân Khoát là một trong số rất ít người sớm nhận ra nguy cơ đánh mất bản sắc. Ông đặt ra một tuyên ngôn mang tính lịch sử:

“Âm nhạc Việt Nam phải nói tiếng Việt Nam, phải mang tâm hồn Việt Nam, dù cho có dùng bất kỳ phương tiện kỹ thuật hiện đại nào của thế giới.”

Đóng góp to lớn nhất của ông chính là việc thử nghiệm và đặt nền móng cho việc hiện đại hóa âm nhạc dân tộc. Ông là người đầu tiên đưa chất liệu Ca trù, Hát xẩm, Quan họ vào các cấu trúc âm nhạc phương Tây (Romance, Khúc tấu, Khúc biến tấu). Nhờ ông, Tân nhạc Việt Nam không phải là một đứa trẻ mồ côi về mặt truyền thống, mà là sự nối dài rực rỡ của nguồn cội.

III. BỨC TRANH DI SẢN: TỪ THƠ CA ĐẾN NHẠC KỊCH HÀN LÂM

Nguyễn Xuân Khoát không phải là tác giả sáng tác theo kiểu “mì ăn liền” hay chạy theo số lượng. Tác phẩm của ông chắt lọc, thấu đáo và đòi hỏi người nghe một sự suy ngẫm nhất định.

Các phong cách âm nhạc đặc trưng:

Phong cách Thơ – Nhạc giao hòa: Khả năng bắt nhịp và cảm nhận nhịp điệu thơ ca dân tộc cực kỳ tinh tế.

Phong cách Ca trù – Dân gian hiện đại: Sử dụng tiết tấu đảo phách, nhịp phách Ca trù và các thang âm 5 cung (Pentatonic) Việt Nam kết hợp với hòa thanh Tây phương.

Phong cách Nhạc nhi đồng: Đơn giản, trong sáng, nhưng vô cùng ngộ nghĩnh và giàu tính giáo dục.

IV. PHÂN TÍCH NHỮNG TÁC PHẨM ĐỂ ĐỜI: KHI DI SẢN LÊN TIẾNG

1. Màu cây trong vườn (1938) – Tiếng pháo đầu tiên của Tân nhạc

Được xem là một trong những bản Tân nhạc đầu tiên của Việt Nam, Màu cây trong vườn mang giai điệu nhẹ nhàng, mộc mạc như một bức tranh thủy mạc về làng quê Việt Nam. Không còn là cái buồn bi lụy của thời thế, tác phẩm thể hiện tình yêu thiên nhiên, cái nhìn tinh khôi của một người nghệ sĩ trước cái đẹp bình dị.

2. Bình văn (Thơ Hàn Mặc Tử) & Hồn xuân (Thơ Thế Lữ)

Nguyễn Xuân Khoát là bậc thầy trong việc phổ thơ. Với Bình văn, ông sử dụng nhuần nhuyễn nhịp điệu chậm rãi, trang nghiêm, tái hiện không gian đêm trăng thanh vắng, nơi các sĩ tử xưa ngồi đọc văn. Ca từ và giai điệu quyện vào nhau chặt chẽ đến mức khó có thể tách rời.

3. Hồn Bướm mơ tiên & Thằng Bờm – Hiện thực và Triết lý

Thằng Bờm: Một kiệt tác dựa trên bài ca dao quen thuộc. Nguyễn Xuân Khoát không chỉ dựng lại câu chuyện dân gian mà qua âm nhạc, ông khắc họa nên tính cách chất phác, hóm hỉnh và triết lý sống “đủ là đủ” của người lao động Việt Nam. Giai điệu nhảy múa, vui tươi nhưng mang chiều sâu tư tưởng.

4. Con mèo trèo cây cau & Con vỏi con voi – Thế giới tuổi thơ ngộ nghĩnh

Viết cho thiếu nhi, Nguyễn Xuân Khoát cởi bỏ lớp áo “bác học” để trở về làm một đứa trẻ. Bài hát Con mèo trèo cây cau ngắn gọn, dễ thuộc nhưng hàm chứa sự lắt léo tinh nghịch của âm nhạc dân gian.

5. Sonata cho Violon và Piano & các tác phẩm khí nhạc

Không dừng lại ở thanh nhạc, ông là người tiên phong trong lĩnh vực khí nhạc Việt Nam. Những bản nhạc không lời của ông như Sơn Tinh – Thủy Tinh, Tiếng hát sông Hương là sự thử nghiệm đưa nhạc cụ phương Tây như Violon, Cello thể hiện các luyến láy, ngắt nghỉ đặc trưng của âm nhạc truyền thống Việt Nam.

V. GIAI THOẠI, TÌNH YÊU VÀ NHỮNG THĂNG TRẦM TRONG CUỘC ĐỜI

1. “Người đi tìm tiếng gõ phách”

Giai thoại kể rằng, những năm kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc, dù thiếu thốn đủ đường, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát vẫn luôn mang theo một thanh tre nhỏ hoặc một mảnh gỗ. Mọi người hay thấy ông ngồi thu lu bên bếp lửa, tay gõ lạch cạch xuống sàn tre. Hỏi ra mới biết, ông đang đi tìm những tiết tấu mới cho bài hát từ nhịp phách Ca trù và tiếng chày giã gạo của đồng bào miền núi.

2. Tính cách sòng phẳng và tình cảm với đồng nghiệp

Là Chủ tịch Hội Nhạc sĩ, ông nổi tiếng là người thẳng thắn, không khoan nhượng với sự hời hợt trong nghệ thuật, nhưng lại cực kỳ bao dung và khiêm tốn. Ông từng công khai khen ngợi các nhạc sĩ trẻ như Văn Cao, Đỗ Nhuận, Nguyễn Văn Tý và sẵn sàng đứng ra bảo vệ những thể nghiệm âm nhạc mới mẻ của thế hệ sau.

VI. GIÁ TRỊ VĨNH CỬU VÀ SỰ GHI NHẬN CỦA LỊCH SỬ

Với những đóng góp đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp âm nhạc dân tộc, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát đã được Giải thưởng Văn học – Nghệ thuật (Đợt I – năm 1996) Danh hiệu cao quý nhất dành cho những sáng tạo mang tính nền tảng và bước ngoặt của nền nghệ thuật Việt Nam.

Nhận định từ giới chuyên môn:

Nhạc sĩ Văn Cao từng bày tỏ sự kính trọng sâu sắc đối với người anh cả Nguyễn Xuân Khoát, coi ông là người đã vạch ra con đường đúng đắn cho Tân nhạc ngay từ những ngày đầu còn mông quạnh.

Các nhà nghiên cứu âm nhạc thống nhất nhận định: Nguyễn Xuân Khoát không chỉ là một nhạc sĩ sáng tác, ông là một nhà lý luận, một kiến trúc sư đã đặt những gạch đá đầu tiên xây dựng nên ngôi nhà Âm nhạc Kinh viện Việt Nam.

KẾT LUẬN: TIẾNG ĐÀN CÒN MÃI VỚI NÚI SÔNG

Thời gian có thể làm mờ đi nhiều thứ, nhưng những giai điệu của Nguyễn Xuân Khoát vẫn lặng lẽ chảy như dòng sông sâu. Ông đã sống một cuộc đời trọn vẹn với âm nhạc, không vồn vã chạy theo danh lợi, không bám theo những trào lưu nhất thời. Cánh chim đầu đàn ấy đã bay qua những dông bão của lịch sử, để lại cho hậu thế một gia tài âm nhạc vô giá: Nơi tính hiện đại và bản sắc dân tộc hòa làm một.

DANH SÁCH CÁC TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA NHẠC SĨ NGUYỄN XUÂN KHOÁT

1. Màu cây trong vườn (1938) – Tân nhạc thời kỳ đầu

2. Bình văn (1940 – Thơ Hàn Mặc Tử) – Ca khúc phổ thơ

3. Hồn xuân (1942 – Thơ Thế Lữ) – Ca khúc lãng mạn

4. Cúc hoa (1942) – Thơ phổ nhạc

5. Thằng Bờm (1943) – Âm hưởng ca dao, dân gian

6. Con mèo trèo cây cau (1943) – Nhạc thiếu nhi

8. Ta đã sống ngàn năm (1950) – Nhạc quần chúng/Kháng chiến

9. Tiếng hát sông Hương (1953) – Khí nhạc/Thanh nhạc

10. Lúa thu (1955) – Nhạc cảnh

11. Sơn Tinh – Thủy Tinh (1960) – Thơ múa/Khí nhạc

12. Con vỏi con voi – Nhạc thiếu nhi

Biên khảo :3T

Bài viết mới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button