Làng nghề truyền thống

Liễn Làng Chuồn – Một nét Tết Huế trở về

Nhắc đến Làng Chuồn, nhiều người Huế sẽ nhớ Đầm Chuồn, nhớ chợ làng, bánh khoái cá kình và vùng sông nước phía đông thành phố. Ngoài những điều quen thuộc ấy, nơi đây còn có một nét văn hóa rất đẹp từng đi vào Tết Huế: Liễn làng Chuồn.

Làng Chuồn có tên chữ là An Truyền. Ngày trước, cứ mỗi độ Tết đến, từ ngôi làng này những tấm liễn lại theo chân người đi vào những nếp nhà Huế.

Liễn không cầu kỳ chuyện tích. Cái đẹp nằm ở chữ.

Phúc

Thọ

Đức

Chữ được in từ mộc bản, đi cùng những câu đối và hình tượng Long, Lân, Quy, Phụng, Hạc, Long Mã. Có chữ Phúc ôm cả Tứ linh trong từng nét khắc. Nhìn là chữ, ngắm kỹ lại thấy hình. Ngắm hình rồi lại đọc ra điều người xưa muốn gửi gắm.

Những tấm liễn màu hồng điều, đỏ son thường được treo nơi trang trọng, bên bàn thờ hoặc gian tiếp khách vào dịp năm mới. Một chữ Phúc treo lên đâu chỉ để căn nhà có thêm sắc Tết. Trong đó còn có mong cầu bình an, gia đạo, con cháu và cả nếp nhà.

Có lẽ vì vậy mà tôi thấy Liễn làng Chuồn đẹp không riêng ở nét khắc. Điều thú vị hơn nằm trong những gì người xưa gửi vào từng con chữ.

Qua những biến thiên của thời cuộc, Liễn làng Chuồn cứ thưa dần trong những nếp nhà Huế. Nghề không còn người nối. Đến khi cụ Huỳnh Lý, người thợ cuối cùng còn giữ nghề, qua đời, mạch nghề cũng đứt theo. Bộ mộc bản cuối cùng của gia đình cụ rồi cũng không còn. Một dòng tranh từng hiện diện trong Tết Huế dần chỉ còn trong tư liệu cũ và ký ức của người làng.

Năm 2025, Ngô Quý Đức cùng các cộng sự trong hai dự án Về Làng và Phường Bách Nghệ bắt đầu tìm lại dấu vết của Liễn làng Chuồn. Mộc bản không còn, họ tìm tranh cũ, đối chiếu tư liệu, nghe người làng kể rồi lần lại giấy, màu và cách in.

Từ đó, họ tìm đến Thanh Liễu, làng nghề khắc mộc bản lâu đời. Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt tham gia phục dựng khuôn in. Gỗ thị được chọn. Từng nét chữ, từng đường hoa văn dần trở lại trên mặt gỗ.

Rồi chữ Phúc hiện ra.

Một chữ Phúc khá đặc biệt. Trong từng nét chữ có hình Long – Lân – Quy – Phụng. Đi cùng là đôi câu:

“Thiên địa tam dương thái

Càn khôn vạn sự xuân”

Tôi cứ hình dung lúc mộc bản được phủ màu rồi ép xuống tờ giấy dó. Sau bao nhiêu năm vắng bóng, chữ Phúc của Làng Chuồn lại hiện lên trên giấy.

Gỗ thị, giấy dó, sắc chu sa, hoa hiên… từng thứ một được tìm lại. Cách làm của người xưa cũng phải lần lại qua tư liệu, qua những người còn biết nghề và ký ức của người làng.

Tết Bính Ngọ 2026, những tấm Liễn làng Chuồn sau hành trình phục dựng đã trở lại Huế.

Cá nhân tôi thích chữ “trở lại” hơn chữ “phục dựng”.

Làm lại được mộc bản đã khó. Tôi vẫn mong tấm liễn rồi sẽ trở lại trong những ngôi nhà Huế, được treo lên mỗi dịp Tết và con cháu trong nhà biết nó từ đâu mà có.

Huế có thành quách, cung điện, lăng tẩm, chùa chiền. Những thứ ấy ai đến Huế cũng nhìn thấy. Còn một tấm liễn Tết trong gian nhà, một màu đỏ cũ, một chữ Phúc ông bà từng treo lên đầu năm… nhỏ thôi, cũng là Huế.

Biết đâu một ngày, trong một ngôi nhà Huế, lại có đứa trẻ đứng trước tấm liễn mà hỏi:

“Ôn ơi, nhà mình treo chữ chi rứa?”

Rồi từ câu hỏi đó, người lớn kể cho con trẻ nghe về Làng Chuồn, về những tấm liễn Tết và một nghề đã có lúc tưởng không còn nữa.

Chỉ cần còn người treo, còn người hỏi, còn người kể, tôi nghĩ Liễn làng Chuồn đã thực sự trở về.

✒️ Lisa La

Bài viết mới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button