Lịch sử

Bà Triệu – Nữ anh hùng dân tộc

Có những người đi qua lịch sử không để lại cho đời một ngai vàng, một cung điện hay một triều đại dài lâu. Họ chỉ để lại một tư thế đứng. Nhưng đôi khi, một tư thế đứng kiêu hãnh lại có sức sống lâu hơn cả nghìn năm của những vương triều đã mất. Bà Triệu là một người đã để lại trong lòng người dân Việt như thế.

Giữa thế kỷ III, khi đất Giao Châu còn chìm dưới ách đô hộ của Đông Ngô, ở vùng núi Quan Yên, Thanh Hóa, xuất hiện một người con gái mà sử sách gọi là Triệu Thị Trinh, dân gian quen gọi là Bà Triệu. Bà không sinh ra trong nhung lụa của một cung điện, cũng chẳng được lịch sử trao cho một chiếc ngai. Bà lớn lên giữa núi rừng, trong một thời đại mà thân phận con người bị những đạo quân phương Bắc đè xuống như cỏ dưới vó ngựa. Nhưng có những tâm hồn càng bị đè xuống càng bật lên dữ dội.

Tương truyền, khi nghe người anh là Triệu Quốc Đạt chuẩn bị khởi nghĩa, Bà Triệu đã nói một câu vừa như lời tuyên chiến, vừa như một lời thề với chính mình: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông…”. Đó không còn là lời nói của một cô gái bình thường. Đó là tiếng nói của một tâm hồn không chịu chấp nhận cái nhỏ bé mà thời đại áp đặt lên mình.

Bà Triệu không chỉ chống lại một đội quân. Sâu xa hơn, bà chống lại ý niệm về sự khuất phục.

Người ta thường hình dung những anh hùng bằng gươm giáo, chiến mã và chiến trận. Nhưng vẻ đẹp của Bà Triệu nằm ở chỗ khác: trước khi cầm gươm, bà đã biết mình muốn sống như thế nào; bà không chịu làm người cúi đầu, không chịu làm người bị định đoạt số phận, không chịu để tuổi trẻ của mình trôi qua trong một đời sống chỉ biết cam phận.

Năm 248, cuộc khởi nghĩa Bà Triệu bùng lên. Từ vùng núi rừng Thanh Hóa, nghĩa quân tiến đánh quân Ngô. Sử liệu còn lưu lại hình ảnh người nữ tướng cưỡi voi ra trận, áo vàng phấp phới giữa khói lửa. Có thể qua hàng nghìn năm, hình ảnh ấy đã được dân gian huyền thoại hóa; nhưng chính những huyền thoại ấy lại nói với chúng ta một điều rất thật: nhân dân đã nhìn thấy ở người phụ nữ ấy một vóc dáng lớn hơn chính cuộc đời của bà.

Bà Triệu cuối cùng không thắng được một đế chế. Nhưng lịch sử không phải lúc nào cũng đo chiến thắng bằng số thành trì chiếm được. Có những cuộc chiến thất bại trên chiến trường nhưng chiến thắng trong ký ức. Bà Triệu đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Nhưng cái chết của bà không khép lại câu chuyện. Trái lại, nó mở ra một truyền thuyết. Từ đó, người phụ nữ ấy bước ra khỏi một năm tháng cụ thể để trở thành biểu tượng của khí phách Việt Nam.

Điều kỳ lạ là càng lùi xa trong thời gian, hình bóng Bà Triệu càng trở nên lớn hơn. Một người con gái của thế kỷ III đã đi qua biết bao thế kỷ để đứng lại trong tâm thức người Việt hôm nay. Có lẽ bởi dân tộc này luôn hiểu một điều rất sâu: mất nước đã là một nỗi đau, nhưng mất đi lòng tự trọng còn là một mất mát lớn hơn.

Bà Triệu vì thế không chỉ thuộc về quá khứ. Bà thuộc về những mùa xuân của ý chí. Thuộc về những người trẻ dám nghĩ một điều lớn hơn hoàn cảnh của mình. Thuộc về tất cả những ai, trong một khoảnh khắc nào đó của cuộc đời, đã từng đứng trước nghịch cảnh và tự hỏi: Ta sẽ cúi xuống, hay ta sẽ đứng thẳng?

Hơn mười tám thế kỷ đã trôi qua. Núi Quan Yên vẫn còn đó. Những cánh đồng Thanh Hóa vẫn xanh qua bao mùa lúa. Những dòng sông vẫn lặng lẽ chảy về biển. Những triều đại từng hùng mạnh đã lần lượt hóa thành bụi thời gian. Chỉ có câu nói về “cơn gió mạnh” vẫn còn bay. Bởi gió không có tuổi. Và những người đã sống một đời không chịu cúi đầu cũng vậy.

Bà Triệu – có thể đã thất trận trước quân Ngô, nhưng chưa bao giờ thất bại trước lịch sử. Bởi lịch sử cuối cùng không chỉ nhớ những người đã thắng; lịch sử còn cúi đầu trước những người đã dám đứng lên khi biết rằng mình có thể sẽ không thắng. Đó chính là vẻ đẹp bi tráng của Bà Triệu. Một người con gái với một thanh gươm trong cơn gió dữ, bà vẫn đứng trong một tư thế đứng thẳng, từ thế kỷ III vọng mãi đến hôm nay.

Dưới đây là những bài thơ vinh danh Bà Triệu (Triệu Thị Trinh) từ các danh nhân, sử gia và các tập sách lịch sử nổi tiếng của Việt Nam:

1. Bài thơ trong Đại Nam quốc sử diễn

Đoạn thơ khắc họa hình ảnh kiêu hùng của Bà Triệu:

Mới mười chín tuổi xuân xanh,
Cờ xướng nghĩa, dựng doanh ngoài ngàn.
Cưỡi voi dẫu sóng ngang tàng,
Đánh tan Lục Dận, phế giang xô nhào.
Tiếng thơm lưu mãi mai sau,
Gương sáng soi màu núi sông.

2. Thơ trong Thiên Nam ngữ lục

Thiên Nam ngữ lục là bộ diễn lịch sử bằng tiếng Nôm lớn nhất của Việt Nam (khuyết danh, khoảng thế kỷ XVII).
Bài thơ tả cảnh Bà Triệu xung trận rất khí thế:

“Đầu trùm khăn thắt áo vàng,
Cưỡi voi dẫu sóng, xông ngang trận hồng.
Đánh cho Lục Dận kinh lòng,
Quân Đông Ngô phải giật đùng gót chân.
Tuy rằng phận gái quần thần,
Chí cao vút đất, danh lừng cõi Nam.”

BẰ TRIỆU – Tô công Đáng – 14/09/2024
🌹

Giao châu Triệu thị thách Ngô hoàng (*)
Lục Dận (**) nhiều phen khiếp sợ nàng
Thương phận má đào cơn quốc biến
Khóc nòi giống Việt lúc nhà tan

Ngồi trên voi chém bay đầu giặc
Đạp xuống sóng dành lại Cửu Chân (***)
Sử sách ghi ơn người liệt nữ
Đem thân bồ liễu chống hung tàn

(* ) Ngô hoàng : Vua Đông Ngô, tên là Tôn Quyền làm vua vùng Giang Nam thời Tam Quốc
(**) Lục Dận một tướng của Đông Ngô đem quân đánh Giao châu (nước Việt Nam ngày nay)
(***) Cửu Chân : quê hương của bà Triệu, một quận của Giao Châu ( Việt Nam ngày nay), khi đó gồm địa phận tỉnh Thanh Hóa và một phần tỉnh Ninh Bình

August 18, 2026
TTS (Tô công Đáng) 🦩

Bài viết mới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button