Cuộc tình Mỵ Châu – Trọng Thủy

Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam, câu chuyện tình giữa Mỵ Châu và Trọng Thủy là một thiên tình sử vừa lãng mạn, vừa bi thương, in đậm dấu ấn lịch sử buổi đầu dựng nước. Đó không chỉ là chuyện tình yêu đôi lứa, mà còn là bài học đau đớn về lòng tin, về sự phản bội và vận mệnh của non sông.
Lúc nhỏ tôi mê xem cải lương và vô cùng thích thú các vở cải lương về chuyện tình Mỵ Châu – Trọng Thủy.
Đây là một trong những đề tài kinh điển của sân khấu cải lương vì hội đủ: tình yêu, chiến tranh, lòng trung hiếu và sự phản bội. Một số vở cải lương và trích đoạn nổi tiếng gồm: Mỵ Châu – Trọng Thủy — tập trung vào bi kịch tình yêu giữa hai người, thường được dàn dựng theo phong cách bi thương, lãng mạn. Một số đoàn cải lương xưa còn dựng các trích đoạn như: Lông Ngỗng Rơi Đường, Giếng Ngọc, Mỵ Châu Rắc Lông Ngỗng. Nhiều nghệ sĩ cải lương nổi tiếng từng diễn các vai này như: Thanh Nga, Lệ Thủy, Minh Vương.
Theo lịch sử thì vào khoảng thế kỷ thứ III trước Công nguyên, An Dương Vương xây thành Cổ Loa, lập nên nước Âu Lạc hùng mạnh. Nhờ có nỏ thần Kim Quy, quân dân Âu Lạc nhiều lần đánh bại quân xâm lược của Triệu Đà. Không thể thắng bằng binh đao, Triệu Đà dùng kế hòa thân: cho con trai là Trọng Thủy sang cầu hôn công chúa Mỵ Châu. Giữa chốn cung thành Cổ Loa cổ kính, Mỵ Châu gặp Trọng Thủy. Chàng mang dáng vẻ thư sinh, lời nói dịu dàng, ánh mắt đầy yêu thương. Còn Mỵ Châu là nàng công chúa ngây thơ, trong sáng, lớn lên giữa nhung lụa nhưng giàu tình cảm. Từ cuộc hôn nhân chính trị, giữa hai người dần nảy sinh một tình yêu mãnh liệt. Mỵ Châu yêu Trọng Thủy bằng tất cả trái tim son trẻ. Nàng tin chồng tuyệt đối, xem chàng là người tri kỷ duy nhất trong đời. Những ngày sống bên nhau trong thành Cổ Loa, tình yêu của họ đẹp như mộng: tiếng đàn trong đêm trăng, lời thề non hẹn biển bên thành ốc xoáy, những ánh mắt lưu luyến mỗi lúc chia xa. Nhưng phía sau vẻ dịu dàng ấy, Trọng Thủy vẫn mang trong lòng mệnh lệnh của cha và tham vọng của nước Nam Việt. Bị giằng xé giữa tình yêu và bổn phận, cuối cùng Trọng Thủy đã chọn con đường phản bội. Chàng dùng lời ngon ngọt để dò hỏi bí mật nỏ thần. Vì quá yêu và quá tin chồng, Mỵ Châu vô tình tiết lộ cơ mật quốc gia. Trọng Thủy tráo lẫy nỏ rồi trở về báo cho Triệu Đà đem quân tấn công Âu Lạc.
Ngày quân của Triệu Đà tràn đến cũng là ngày bi kịch bắt đầu. Nỏ thần mất linh nghiệm, thành Cổ Loa thất thủ. An Dương Vương đưa Mỵ Châu chạy về phương Nam. Trên lưng ngựa, nàng vẫn ngây thơ rắc lông ngỗng để Trọng Thủy có thể tìm thấy mình — một hành động vừa tha thiết yêu thương, vừa đau đớn đến tột cùng. Khi chạy đến bờ biển, thần Kim Quy hiện lên nói rằng:
“Giặc ở sau lưng nhà vua đó!” An Dương Vương bàng hoàng nhận ra chính con gái mình vô tình làm mất nước. Trong nỗi đau của một vị vua và trách nhiệm với giang sơn, ông rút gươm chém Mỵ Châu. Máu nàng chảy xuống biển hóa thành những viên ngọc trai sáng long lanh. Còn Trọng Thủy, khi tìm đến nơi, chỉ còn thấy xác người mình yêu. Chàng ôm mối hận và nỗi ân hận khôn nguôi, rồi gieo mình xuống giếng tự vẫn. Từ đó, dân gian truyền rằng ngọc trai đem rửa bằng nước giếng nơi Trọng Thủy chết sẽ sáng hơn, như giọt nước mắt muộn màng của một tình yêu nhuốm màu phản bội.
Câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy sống mãi trong tâm thức dân tộc bởi nó mang vẻ đẹp rất con người. Mỵ Châu yêu chân thành đến quên cả cảnh giác Trọng Thủy có thể từng yêu thật, nhưng cuối cùng lại đặt quyền lực lên trên tình yêu. Chính vì vậy, bi kịch của họ không chỉ là mất nước mà còn là sự tan vỡ của niềm tin và trái tim.
Ngày nay, tại Thành Cổ Loa, là tòa thành cổ nhất và có quy mô độc đáo nhất Việt Nam, nằm tại xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô khoảng 16-20km về phía Bắc vẫn còn đền thờ An Dương Vương, am Mỵ Châu và giếng Trọng Thủy — những di tích gợi nhắc một mối tình bi thương nhất lịch sử Việt Nam. Câu chuyện ấy vượt khỏi khuôn khổ truyền thuyết để trở thành biểu tượng cho tình yêu say đắm nhưng mù quáng, cho sự phản bội đau lòng, và cho bài học muôn đời về lòng trung nghĩa đối với quê hương đất nước. Nhiều danh nhân, thi sĩ qua các thời đại đã xúc động trước thiên tình sử này và để lại những vần thơ nổi tiếng.
Những bài thơ của danh nhân vịnh Mỵ Châu – Trọng Thủy
Loa Thành hoài cổ – Bà Huyện Thanh Quan chép trong “Quốc âm thi tập” —
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường._
Ghi chú: Không nhắc thẳng tên Mỵ Châu, nhưng “gương cũ soi kim cổ” chính là chỉ ra tích lông ngỗng rắc đường. Bài thơ này đứng đầu thơ Nôm hoài cổ.
An Dương Vương – Nguyễn Khuyến Tam Nguyên Yên Đổ, chép trong “Quế Sơn thi tập” –
Bể sâu còn có khi dò được
Lòng gái thâm sâu biết mé nào!
Nỏ thần vô ý trao tay giặc,
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu
Thương kẻ tình chung mà hóa dại
Giận người lòng rắn lại ra màu
Nghìn năm thành cũ còn trơ đó
Khách viếng qua đây luống bạc đầu._
Mỵ Châu – Trọng Thủy – Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Đăng báo “An Nam tạp chí” 1926 –
Một nhành lông ngỗng rắc đường xa
Đưa mối tình chung đến hải hà
Lỗi tại ta ư? Hay tại giặc?
Mà đem duyên nợ hóa sơn hà
Nàng thì giữ vẹn lòng son sắt
Chàng lại mang về kế họ cha
Kiếp khác xin đừng yêu nữa nhé
Yêu chi để nước mất nhà tan._
Đề miếu Cổ Loa – Cao Bá Quát
Chép trong “Cao Chu Thần di thảo”
Cổ Loa thành bại bởi vì đâu?
Một phút tin chồng, mất nước sâu
Giếng Ngọc còn đây hồn oán hận
Rùa Vàng đi mất mộng cơ cầu.
Lông ngỗng bay rồi, tình cũng hết
Đầu người chém xuống, hận còn lâu
Ngàn năm bia miệng còn ghi mãi
Gái Việt đừng yêu kẻ mắt sâu._
Ghi chú: “Mắt sâu” chỉ người phương Bắc. Câu cuối thành tục ngữ.
Loa Thành ca – Phan Huy Chú
chép trong “Lịch triều hiến chương loại chí” –
An Dương Vương thế đã cùng
Mỵ Châu lầm lỡ theo chồng Triệu gia
Nỏ thần sơ ý trao ra
Cơ đồ phút chốc tan ra bọt bèo
Tình kia ai dễ hẹn hò
Nước non để hận, sóng xô Giếng Rùa._
Vịnh Cổ Loa – Chu Mạnh Trinh
Tác giả “Hương Sơn phong cảnh ca” cuối thế kỷ 19 –
Thần Kim Quy đã trao nỏ báu
Sao Mỵ Châu lại dại trao chàng?
Tin chồng một phút lầm than
Nghìn năm để hận cho đàn cháu con
Trọng Thủy kia về chầu âm phủ
Mỵ Châu còn máu rỏ Giếng Loa
Hồng nhan một kiếp phong ba
Vì yêu mà hóa sơn hà tan hoang._
Đề am Mỵ Châu – Nguyễn Văn Siêu
Thần Siêu, khắc tại am Mỵ Châu, ở xã Cổ Loa , huyện Đông Anh, Hà Nội.
Nhất thất túc thành thiên cổ hận
Tái hồi đầu thị bách niên cơ
Thử tâm khả biểu thiên niên hậu
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ._
Dịch:
Một bước sai lầm nghìn năm hận
Quay đầu lại đã trăm năm rồi
Lòng này xin tỏ cùng thiên cổ
Một tấm lòng băng ở giếng ngà._
KHÓC MY. CHÂU – Tô công Đáng – 20/05/2024
🦩
Bốn cửa thành Loa, bóng giặc vào
Trời Nam ánh kiếm bạc trăng sao
Chàng tìm kiếm thiếp trong binh lửa
Thiếp đợi chờ chàng dưới ánh sao
Đáy giếng long lanh màu lệ ngọc
Trên đường lấp lánh sắc lông bào
Ngàn năm gió bãi xôn xao vọng
Liễu rũ, hoa tàn, máu hoá châu
TTS (Tô công Đáng) 🦩✒️
Lời ban biên tập:
Em cám ơn anh Dang To đã cùng ACE cầm bút cho chuyên mục sử Việt ngày thứ 5 hàng tuần.
Bài viết về Mỵ Châu-Trọng Thủy rất đặc biệt bởi sự kết nối truyền thuyết dân gian, sử liệu và thi ca Việt Nam trong cùng một mạch kể giàu cảm xúc.
Tác giả không chỉ kể lại một tích xưa quen thuộc mà còn khơi dậy chiều sâu văn hoá của thành Cổ Loa, cải lương Nam Bộ và truyền thống hoài cổ trong thi ca dân tộc. Việc dẫn nhiều áng thơ của các danh nhân như Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Tản Đà hay Nguyễn Văn Siêu giúp bài viết vượt khỏi phạm vi cảm tác thông thường để trở thành một khảo luận văn hoá sử mang tính phổ cập nhưng vẫn có chiều sâu học thuật.
Điểm đáng quý hơn cả là bài viết giữ được tinh thần Việt Nam rất rõ nét: xem lịch sử không chỉ là dữ kiện mà còn là ký ức tinh thần của dân tộc. Qua đó, chuyên mục văn hoá sử của Sắc Màu Việt được nâng tầm ở tính nghiên cứu, khả năng khơi gợi căn tính văn hoá và nuôi dưỡng tình yêu lịch sử bằng ngôn ngữ mềm mại, gần gũi.
Đóng góp của tác giả vào chuyên mục này là rất quý khi đưa lịch sử đến gần độc giả đương đại bằng một giọng viết giàu cảm xúc nhưng vẫn tôn trọng chiều sâu tư liệu và giá trị truyền thống.
Trân trọng!
Lisa La



