Danh lam thắng cảnh

Đệ tam cảnh – Tịnh Hồ Hạ Hứng

第三景-淨湖夏興

Cảm hứng mùa hè ở hồ Tịnh Tâm

Thơ của vua Thiệu Trị

Giữa lòng đất Thần Kinh, hồ Tịnh Tâm từng được xem là một trong những thắng cảnh tiêu biểu dưới triều Nguyễn. Không gian này không chỉ là cảnh quan mà còn là nơi gặp gỡ giữa thiên nhiên và thi ca, nơi cảm quan thẩm mỹ của con người được đặt trong một trật tự hài hòa với đất trời.

Cảnh đẹp nơi đây đã được phản ánh tinh tế qua bài thơ Tịnh hồ hạ hứng của vua Thiệu Trị

“Trừng luyện hàm không nhất vọng xa,
Thiềm nha ảnh thuỷ trám tinh hà.
Lâu đài hoa thụ trường sinh cảnh,
Thiên địa giang sơn tứ hải gia.
Vũ phiến mạn giao thi hoá nhật,
Thuấn cầm uyển nhĩ nhập thi ca.
Y nhiên nhân trí tình vô hạn,
Đồng lạc giao phu vạn vật gia”.

| Bản dịch của tác giả Phan Thuận An như sau |

Bóng nước lung linh đậm sắc trời,
Hiên nhà soi dáng – đám sao rơi.
Lâu đài, hoa cỏ cùng hun đúc,
Trời đất, non sông lại đắp bồi.
Vũ phiến, gió hoà vào chốn chốn,
Thuấn cần, khúc nhập ở nơi nơi.
Điểm tô quang cảnh tình nhân trí,
Vạn vật cùng vui hợp ý người.

Nếu chỉ đứng trước hồ hôm nay, người ta khó nhận ra vì sao nơi này từng được xếp vào hàng đệ tam cảnh. Cái đẹp của hồ không nằm ở một điểm nhìn riêng lẻ, mà ở tổng thể được tổ chức có chủ ý. Mặt nước mở rộng, các đảo phân bố cân đối, kiến trúc ẩn hiện giữa cây xanh, các lối đi nối tiếp theo nhịp điệu mềm. Không gian ấy dẫn dắt ánh nhìn đi xa rồi dừng lại, tạo nên một trải nghiệm thị giác có chiều sâu.

Tên gọi Tịnh Tâm cũng gợi rõ ý niệm. Tịnh là lặng, Tâm là lòng. Không gian này được kiến tạo để người bước vào có thể lắng lại. Mặt nước phẳng, cây cối vừa đủ, kiến trúc không lấn át thiên nhiên. Mọi yếu tố hướng đến trạng thái cân bằng, nơi con người có thể điều hòa cảm xúc và suy tưởng.

Hồ Tịnh Tâm ban đầu là một đoạn của sông Kim Long, về sau được cải tạo thành ao Ký Tế. Khi còn mang chức năng thực dụng, trong hồ có hai đảo nhỏ dùng làm nơi chứa hoả dược và diêm tiêu. Đến năm 1839, vua Minh Mạng cho di dời các kho này và tổ chức cải tạo toàn bộ khu vực. Từ đó, ao Ký Tế được đổi tên thành hồ Tịnh Tâm, đồng thời chuyển thành một không gian cảnh quan mang tính biểu tượng.

Theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, hồ được quy hoạch như một vườn ngự uyển hoàn chỉnh với ba đảo chính gồm Bồng Lai ở phía nam, Phương Trượng ở phía bắc và Doanh Châu nằm về phía tây đảo Bồng Lai. Cách đặt tên gợi liên tưởng đến thế giới tiên cảnh, phản ánh quan niệm về sự hòa hợp giữa con người và vũ trụ.

Trên đảo Bồng Lai có điện Bồng Doanh ở vị trí trung tâm, quay về hướng nam, mái lợp ngói hoàng lưu ly. Chung quanh là hệ thống cửa, cầu và các công trình phụ trợ như thuỷ tạ Thanh Tâm và lầu Trùng Luyện. Trên đảo Phương Trượng có gác Nam Huân hai tầng cùng các công trình như lầu Tịnh Tâm, nhà Thiên Nhiên và hiên Dưỡng Tính. Giữa hai đảo là đình Tứ Đạt, nối bằng hành lang dài, tạo nên sự liên kết liên tục giữa các không gian.

Một con đê mang tên Kim Oanh chạy ngang mặt hồ theo hướng đông tây. Trên trục này có cầu Lục Liễu, cầu Bạch Tần và các hành lang nối tiếp. Khu vực phía tây có xưởng Thanh Tước, nhà Khúc Tạ và Khúc Tạ Hà Phong. Toàn bộ khu vực được bao quanh bởi tường gạch, mở bốn cửa theo bốn hướng gồm Hạ Huân, Đông Hy, Xuân Quang và Thu Nguyệt. Bên trong trồng liễu, tre, trúc và nhiều loại hoa. Mặt hồ trồng sen, tạo nên đặc trưng riêng của cảnh quan.

Việc hồ gần như chỉ có sen trắng không phải là ngẫu nhiên. Trong quá trình hình thành ngự uyển, triều đình đã lựa chọn giống sen phù hợp cả về thẩm mỹ lẫn điều kiện sinh trưởng. Sen trắng có sắc độ nhẹ, hương thanh, phù hợp với tinh thần tĩnh tại của không gian. Môi trường nước tĩnh, lớp bùn phù sa dày từ nền sông cũ giúp sen phát triển ổn định, giữ được hương lâu và lan xa. Khi một giống sen thích nghi tốt, nó dần trở thành chủ đạo và tạo nên diện mạo đặc trưng kéo dài qua nhiều thế hệ.

Không gian này từng là nơi diễn ra những hoạt động sinh hoạt riêng của cung đình. Nhà vua có thể dạo thuyền trên hồ, ghé các đảo để nghỉ chân, thưởng trà hoặc ngắm sen theo mùa. Những hành lang nối giữa các đảo tạo điều kiện cho việc di chuyển liên tục mà vẫn giữ được sự tách biệt. Các thuỷ tạ, lầu và hiên nghỉ đóng vai trò điểm dừng, nơi quan sát cảnh sắc từ nhiều góc nhìn khác nhau.

Những buổi xướng họa thi ca cũng gắn với không gian này. Bài thơ “Tịnh hồ hạ hứng” không phải là cảm hứng ngẫu nhiên, mà là kết quả của một môi trường đã được tổ chức để nuôi dưỡng sự quan sát và suy tưởng. Hồ Tịnh Tâm vì thế không chỉ là nơi để ngắm, mà còn là nơi để cảm và để viết.

Qua thời gian và những biến động lịch sử, phần lớn kiến trúc đã hư hỏng hoặc không còn. Đầu thế kỷ hai mươi, theo ghi chép của Léopold Cadière, khu vực này chỉ còn lại tường bao và các cổng. Những lần chỉnh trang về sau không thể tái hiện đầy đủ cấu trúc ban đầu.

Hiện nay, hồ Tịnh Tâm được quan tâm trong tổng thể bảo tồn Quần thể di tích Cố đô Huế. Công tác cải thiện môi trường nước, gia cố bờ kè và tổ chức lại cảnh quan đã góp phần ổn định không gian. Một số hạng mục được phục dựng ở mức độ nhất định nhằm gợi lại bố cục xưa.

Giá trị của hồ có thể nhìn qua hai lớp thời gian. Trong quá khứ, đây là không gian dành cho hoàng gia, nơi thể hiện trình độ quy hoạch và quan niệm thẩm mỹ về sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Ở hiện tại, hồ trở thành một phần của di sản đô thị, mở ra cho cộng đồng tiếp cận và cảm nhận.

Mỗi mùa hè, sen nở kín mặt hồ. Hương sen lan trong không gian tĩnh lặng, nối tiếp một mạch cảm nhận từ quá khứ đến hiện tại. Hồ Tịnh Tâm vẫn tồn tại, không như một hình ảnh nguyên vẹn, mà như một lớp ký ức còn có thể nhận ra qua cảnh sắc và qua cách con người nhìn lại di sản.

✒️ Lisa La

Bài viết mới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button