Làng Đá Non Nước – những người thổi hồn vào đá

Ở Non Nước, người ta nói rằng muốn làm nghề phải biết “nghe tiếng đá”. Mỗi khối đá đều có đường vân, cấu trúc và tính chất riêng. Người thợ không chỉ dùng búa và đục để tạo hình mà còn phải kiên nhẫn lắng nghe, cảm nhận và đối thoại với đá. Có lẽ cũng vì vậy mà trong mỗi tác phẩm hoàn chỉnh, người ta không chỉ nhìn thấy vẻ đẹp của chất liệu, mà còn thấy cả tâm huyết của người nghệ nhân gửi vào đó.
Nghề điêu khắc đá ở Non Nước đã hiện diện dưới chân Ngũ Hành Sơn từ hàng trăm năm trước. Tương truyền, ông tổ nghề là Huỳnh Bá Quát, người từ xứ Thanh vào phương Nam lập nghiệp rồi truyền lại nghề cho cư dân địa phương. Từ những công cụ thô sơ ban đầu, nhiều thế hệ nghệ nhân đã nối tiếp nhau gìn giữ và phát triển nghề, để hôm nay tiếng đục, tiếng đẽo vẫn còn vang lên dưới chân núi.
Nhiều năm trước, tôi có dịp hiểu về làng đá Non Nước từ một góc độ khác khi dẫn dắt, điều phối các dự án phát triển làng nghề. Cũng từ một cuộc gặp gỡ như một nhân duyên, tôi quen biết nhà điêu khắc người Na Uy Oyvin Storbaekken, người mang theo một ý tưởng tưởng chừng rất khó trở thành hiện thực: xây dựng một quỹ và trung tâm điêu khắc nhằm hỗ trợ và mở rộng cơ hội sáng tạo cho nghệ nhân Việt Nam.
Tôi vẫn nhớ như in lần đầu ông trao cho tôi tập hồ sơ dự án. Hồ sơ khá sơ sài, điều cũng dễ hiểu bởi ông là một nghệ sĩ chứ không phải một nhà kinh tế. Nhưng điều thuyết phục tôi không nằm ở những trang giấy ấy mà ở tình yêu nghệ thuật và niềm tin mãnh liệt ông dành cho nghề điêu khắc đá.
Chúng tôi đã cùng đi khảo sát tại Ninh Bình và Đà Nẵng trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Ninh Vân có bề dày truyền thống hàng trăm năm cùng những nghệ nhân tài hoa, nổi tiếng với các công trình kiến trúc đá quy mô lớn. Nhưng ở Non Nước, chúng tôi tìm thấy một điều rất khác.
Làng nghề nằm ngay dưới chân Ngũ Hành Sơn, nơi núi, sông, biển và đời sống con người đã gắn bó với nhau suốt nhiều thế kỷ. Người thợ nơi đây lớn lên cùng tiếng chuông chùa trên núi, cùng gió biển từ Non Nước thổi vào mỗi sớm mai và cùng những lớp trầm tích lịch sử, văn hóa của vùng đất. Có lẽ cũng vì sống trong không gian ấy mà đá ở Non Nước không chỉ được tạo tác bằng kỹ thuật, mà còn được thổi vào đó cảm xúc và đời sống tâm linh của người nghệ nhân.
Chính không gian văn hóa đặc biệt ấy đã khiến chúng tôi tin rằng Non Nước là nơi thích hợp nhất để dự án bắt đầu.
Tôi vẫn nhớ chuyến ra Hà Nội trình bày dự án trước cuộc họp liên bộ kéo dài gần 10 tiếng. Khi ấy, tôi đang mang thai đến tháng thứ 7. Có lẽ vì thế mà đến bây giờ, tôi vẫn nhớ rất rõ cảm giác hồi hộp khi chờ con dấu cuối cùng được đặt xuống. Khi Quỹ Điêu khắc Đà Nẵng chính thức được phê duyệt, tôi hiểu rằng điều vừa bắt đầu không chỉ là một dự án hợp tác quốc tế. Đó còn là cơ hội để những người thợ dưới chân Ngũ Hành Sơn bước ra khỏi không gian quen thuộc của làng nghề, gặp gỡ bạn bè quốc tế và để tác phẩm của mình được biết đến ở những vùng đất xa hơn.
Ngày nay, để bảo tồn thắng cảnh, việc khai thác đá tại Ngũ Hành Sơn đã chấm dứt. Nguyên liệu được đưa từ nhiều địa phương khác về. Dẫu vậy, điều làm nên giá trị của làng nghề chưa bao giờ chỉ nằm ở nguồn đá. Điều quý nhất vẫn là kỹ năng, kinh nghiệm và tình yêu nghề được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Giữa nhịp sống hiện đại, tiếng đục đá vẫn vang lên mỗi ngày dưới chân núi. Những người thợ già vẫn cần mẫn bên khối đá quen thuộc, trong khi lớp nghệ nhân trẻ tiếp tục tìm kiếm những cách biểu đạt mới cho nghề truyền thống. Có lẽ chính sự tiếp nối ấy đã giúp Non Nước giữ được sức sống của mình qua bao biến đổi của thời gian.
Chính vì vậy mà Non Nước chưa bao giờ chỉ là một làng nghề. Đó còn là nơi lưu giữ ký ức của vùng đất, của những bàn tay đã gắn bó cả đời với đá và của khát vọng sáng tạo không ngừng nghỉ. Bởi thế, khi ngắm nhìn một tác phẩm hoàn chỉnh, người ta không chỉ thấy vẻ đẹp của đá, mà còn thấy thấp thoáng phía sau là bóng núi Ngũ Hành Sơn, là gió biển và cả những lớp thời gian đã đi qua vùng đất này.
✒️ Lisa La



