Lịch sử

Thánh Thiên – Khí phách ngàn năm trên sóng nước sông Thương

Lịch sử nước Nam không chỉ được viết bằng gươm đao của các bậc nam nhi, mà còn được dệt nên bởi dòng máu anh hùng của những nữ tướng kiệt xuất. Hãy ngược dòng thời gian về vùng đất Kinh Bắc để lắng nghe khúc tráng ca bi tráng của Thái phó Bình Ngô Đại tướng quân Thánh Thiên – người con gái đã hóa thân vào sóng nước sông Thương để giữ trọn lòng son với bờ cõi.

Thánh Thiên – Khí phách ngàn năm trên sóng nước sông Thương

Trong buổi bình minh của lịch sử giữ nước, khi gót giày viễn chinh của nhà Đông Hán xéo giày lên bờ cõi, đất trời Giao Chỉ chìm trong u tối. Giữa muôn vàn tiếng than khóc của trăm họ, vùng đất Kinh Bắc đã sinh ra một người con gái mang chí khí của bậc đại trượng phu: Thánh Thiên.

Thánh Thiên công chúa là một bậc nữ tướng trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40 – 43 sau Công nguyên). Hiện nay, vẫn chưa rõ tên thật của bà. Theo thần tích đình Ngọc Lâm (nay là thôn Ngọc Lâm, xã Tân Mỹ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) bà có biệt danh là Nàng Chủ. Bà là người làng Bích Uyển, phủ Kinh Môn (nay thuộc tỉnh Hải Dương).

Dân gian tương truyền, thời ấy tại làng Bích Uyển (thuộc phủ Kinh Môn) có vị quan cùng vợ về quê ở ẩn tên là Nguyễn Huyến. Gia đình thuộc dòng tướng quân, có truyền thống võ học và yêu nước. Sau đó phu nhân mang thai, một lần nằm mộng thấy có người con gái “tự nơi dương đình khâm thụ mệnh Trời, xuống đầu nhập thai sinh”. Sau 13 tháng mang thai, ngày 12 tháng 2 năm Ngọ, phu nhân hạ sinh con gái mày ngài, mắt phượng, tướng mạo oai nghiêm. Vợ chồng vị quan này rất quý con nên đặt tên là Thánh Thiên.

Thánh Thiên từ nhỏ đã được gia đình định hướng và giảng dạy cả văn lẫn võ. Thánh Thiên thông minh đĩnh ngộ, học một biết mười. Năm lên 9 tuổi tam phần, ngũ điển, lục thao, tam lược đều quán thông. Năm 12 tuổi, nàng đã có tài văn chương, thông thạo võ thuật nên nàng sớm trở thành một cá nhân ưu tú với nhiều kỹ năng thượng thừa khi mới vừa ở độ tuổi 15, 16 khiến cho mọi người quanh nàng đều rất khâm phục và kính nể nàng. Đến năm bà tròn 16 tuổi thì mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhưng nhờ có cá tính mạnh mẽ nên dân làng ai cũng nể phục, đồng lòng tôn làm Nữ Chủ và tặng biệt danh Nàng Chủ.

Bà không chọn cuộc đời an phận nơi khuê các với xa thư, thêu thùa. Khi thù nhà nợ nước đè nặng lên vai, người con gái ấy đã đứng lên chiêu mộ binh sĩ, chọn vùng đất Ngọc Lâm (xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang ngày nay) làm căn cứ địa đầu tiên để dựng cờ khởi nghĩa. Tại nơi đây, bà đã ngày đêm luyện tập quân sĩ, bẻ gãy hàng loạt cuộc tiến công của giặc dữ, khiến quan quân nhà Hán mỗi khi nghe danh “Thánh Thiên công chúa” đều phải bạt vía kinh hồn. Bà chính là một vị chủ tướng thực thụ, dùng binh pháp và lòng quả cảm để giữ vững một cõi bờ cõi tự do trước cả khi cuộc khởi nghĩa toàn quốc bùng nổ.

Vào cuối năm 39 sau Công nguyên, Hai Bà Trưng khởi nghĩa, hiệu triệu các thủ lĩnh cùng quy tụ về một mối. Thánh Thiên cũng như hàng chục thủ lĩnh khác đã kéo quân về quy tụ dưới cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Bản lĩnh trận mạc của bà lập tức được khẳng định. Bà được Trưng Vương phong làm Thái phó Bình Ngô Đại tướng quân, giao trọng trách thống lĩnh toàn bộ quân đội trấn giữ vùng biên ải phía Bắc. Một mình bà trấn thủ vùng hiểm yếu, tạo thành bức tường thành kiên cố bảo vệ nền độc lập non trẻ của nước nhà.

Vào năm Tân Sửu (năm 41 sau Công nguyên), vua Hán Quang Vũ phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với Đoàn Chí đem ba vạn sang đánh Trưng Bương. Lúc này, Trưng Vương họp đình thần bày mưu tính kế đánh Mã Viện. Thánh Thiên công chúa liền đem quân giao chiến với quân Hán ba, bốn lần, một tay chém non ngàn quân giặc khiến cho quân Hán sợ hãi lùi về vùng Mã Giang, biểu tấu về vua Hán rằng: “Nam bang có nữ tướng Thánh Thiên dụng binh như thần, trí dũng thiên phương, không sao phục được. Xin bệ hạ phái thêm các tướng giỏi và tiếp thêm quân sĩ sang giúp sức”. Vua Hán cho tướng sĩ sang ứng cứu và mật truyền nên dùng mưu mà đánh.

Thế rồi, Mã Viện dàn quân và cho phao tin là đang đánh các đạo, Trưng Vương tưởng thực truyền Thánh Thiên công chúa hỏa tốc đem quân lên cứu miền thượng du. Không ngờ Mã Viện cho đánh thẳng quân doanh của Trưng Vương. Trưng Vương không kịp đề phòng, vội vàng đem quân ra chống đỡ nhưng không kịp. Thánh Thiên công chúa ở miền thượng được tin Trưng Vương đang ở trong tình thế cấp bách bèn cải trang đem quân kíp về giải nguy. Khi tới thành Ái Châu thì gặp Trưng Vương bại trận. Thánh Thiên công chúa liền bày binh bố trận, ngăn cản quân Hán để Trưng vương lánh đi nơi khác. Hai Bà chạy về đến Hát Môn thế cùng phải gieo mình xuống sông Hát giữa ngày 6 tháng hai năm Quý Mão (năm 43 sau Công nguyên)

Sau khi Hai Bà Trưng mất, Thánh Thiên công chúa một mình cầm cự với quân Hán. Nhưng quân Hán mỗi lúc một đông, bốn phía giáp công khiến quân sĩ của nữ danh tướng mệt mỏi phải lui vào thành. Khi thế giặc mạnh như vũ bão, trong trận chiến cuối cùng bên dòng sông Nhật Đức (sông Thương), khi sức cùng lực kiệt, bà không chọn cách đầu hàng để mong cầu vinh hiển. Thánh Thiên đã thúc ngựa lao xuống dòng sông sâu, hòa thân xác mình vào lòng đất mẹ để giữ trọn lời thề thủy chung với non sông. Sông Thương nổi sóng gầm vang, mang vẻ đẹp bi tráng của một thiên anh hùng ca trường cửu. Khoảnh khắc bóng vị nữ chủ tướng cùng con chiến mã tung bờm lao vào dòng nước đã biến lòng sông thành ngôi mộ độc lập, nguy nga giữa đất trời. Người ta bảo sông Thương “bên trong bên đục”, nhưng có lẽ phần trong trẻo nhất đã hiến dâng để gột rửa bụi đường chiến trận cho người anh hùng, còn phần đỏ nặng phù sa chính là tấm lòng son sắc chở che cho linh hồn bà mãi mãi trường tồn.

Cảm phục khí tiết của Thánh Thiên công chúa, dân làng Ngọc Lâm đã dựng miếu nhỏ bên bến Ngọc để thờ tự. Về Sau, miếu ấy được xây kiên cố thành đền Ngọc lâm, được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Ngoài ra, đình Ba Nóc ở Ngọc Lâm cũng là nơi thờ Thánh Thiên. Trải qua hàng thế kỷ bãi bể nương dâu, mảnh đất Ngọc Lâm năm xưa giờ đây đã trở thành cụm di tích Đình và Đền Ngọc Lâm cổ kính – nơi nhân dân thành kính thờ phụng vị nữ anh hùng với tư cách là Thành hoàng làng, gọi bà bằng cái tên rất đỗi gần gũi, thân thương: Nàng Chủ.

Cứ mỗi độ xuân về, vào dịp tháng Hai âm lịch, đặc biệt là ngày mùng 12 – ngày sinh của bà, không gian trầm mặc của ngôi đền lại bừng lên sức sống của lễ hội truyền thống. Tiếng trống hội dồn dập vang lên, những đoàn kiệu uy nghiêm rước qua từng con ngõ nhỏ, tái hiện lại khí thế hừng hực của đoàn quân cờ xí rợp trời năm xưa. Giữa khói hương trầm mặc, các cụ bô lão dâng văn tế cầu cho quốc thái dân an, trong khi ngoài sân đình, các trò chơi dân gian như đấu vật, cờ người đan xen cùng những làn điệu quan họ mượt mà, đằm thắm bên dòng sông Thương thơ mộng.

Là một người phụ nữ của thế hệ hôm nay, khi tìm hiểu sưu tầm và biên soạn về bà, trong tôi trào dâng một niềm tự hào khôn xiết. Làn khói hương thơm ngát tại đền Ngọc Lâm hôm nay không chỉ là sự tưởng nhớ của hậu thế, mà còn là lời hứa của triệu triệu người con gái đất Việt thời hiện đại, những người có dòng máu đang chảy trong huyết quản này vốn được kế thừa từ những người phụ nữ phi thường như thế – những người không chịu khuất phục trước định kiến hay nghịch cảnh của thời đại, tiếp nối ngọn lửa kiêu hãnh của vị nữ tướng anh hùng, giữ gìn nét đẹp kiên trung và viết tiếp những chương rực rỡ cho quê hương nước Nam qua muôn đời sau.

Tố Mai sưu tầm và biên soạn✍️

Cảm ơn các anh chị và các bạn đã đọc. Nếu có thiếu sót, rất mong được sự bổ sung của mọi người để bài viết hoàn chỉnh hơn. Trân trọng🌺🌺

Bài viết mới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button