Giới thiệu tác phẩm “Bến sông trăng” của tác giả Duy Phạm
BẾN SÔNG TRĂNG – MỘT ĐỐI THOẠI THI CA TỪ BỜ VÔ THƯỜNG
“Bến Sông Trăng” mở ra một bến nước đã lặng chuyến đò. Nơi thời gian không còn vận hành theo nhịp đời thường mà chậm lại, lắng sâu trong ý thức vô thường. Bến ở đây không chỉ là một không gian địa lý, mà là một trạng thái tinh thần. Ở đó, ký ức, thơ ca và sự mất mát cùng hội tụ.
Những lần đàm đạo với thi sĩ Yến Lan, trong ký ức của tác giả Duy Phạm, không dừng ở quan hệ giữa hai cá nhân, mà là sự tiếp xúc giữa hai lớp thời gian thi ca. Khi cố thi sĩ theo bằng hữu về “miền mây trắng”, điều vắng đi không chỉ là một người, mà là một điểm neo tinh thần của một thế hệ thơ. Từ đó, My Lăng rời khỏi bản đồ địa dư để an trú như một “tâm bến” trong miền nhớ, nơi thi ca cổ điển còn ngân vọng.
Từ góc nhìn thiền quán, theo cách tôi cảm thụ thi phẩm này, thì bến vốn không đợi, đò vốn không về; chỉ có lòng người còn quen níu giữ. Câu hỏi “rót về đâu” được lặp lại không vì rượu, mà vì tâm thức không còn chỗ đặt. Khi người lái đò đã “chìm sâu miền quá vãng”, mọi hành vi rót, gọi, chờ đều mất điểm tựa ý nghĩa. Bài thơ chạm tới ý niệm về “tính Không”: không người, không bến, không chuyến sang sông – chỉ còn dư vang của một thói quen chờ đợi chưa kịp buông.
Hình ảnh “trăng” trong bài thơ không mang vẻ sáng mới, mà là “vàng trăng cũ” rơi lên “mặt sách”, rơi vào chữ, chứ không còn rơi xuống dòng sông. Trăng vì thế trở thành ký ức đã nhuốm thời gian; chữ nghĩa cũng mang tuổi, và ký ức không tránh khỏi hạn kỳ. Trong thiền quán, trăng chưa từng cũ; chỉ có cái nhìn của con người là đã mỏi theo tháng năm.
Người viết dừng lại ở chữ “Đợi”, được đặt riêng thành một dòng. Đợi không còn đối tượng, không hướng về ai. Chính trong trạng thái ấy, sự đợi tự tan rã, để bến trở về đúng bản chất của nó: vắng nhưng không buồn, không nhưng không thiếu.
Vì thế, “Bến Sông Trăng” không đơn thuần là hoài niệm, mà là một cuộc tiễn biệt tỉnh táo. Tiễn một người, tiễn một thời, và sâu hơn, là tiễn cả nhu cầu níu giữ của chính mình. Khi “thuyền – khách – bặt… mù tăm”, người viết cũng đặt xuống được chén cuối của Hồ Trường* nhân thế.
Còn lại, chỉ là bến.
Trăng.
Và một khoảng lặng đủ sâu để thi ca tự tan vào đạo.
Xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả
Thi phẩm BẾN SÔNG TRĂNG qua lời dẫn của chính tác giả.
“Tôi có duyên được đàm đạo với thi sĩ Yến Lan, tác giả của bài thơ nổi tiếng BẾN MY LĂNG một trước tác của thi ca thế kỉ trước. Nhà tôi cách nhà Ông chỉ vài trăm mét nên thi thoảng tôi ghé thăm Ông và thường đàm đạo về thi ca của nhóm thơ TỨ HỮU BÀN THÀNH mà Ông là thành viên, một chứng nhân còn sót lại.
Khi Ông theo bằng hữu của mình về miền mây trắng, nhớ Ông, tôi có làm một số bài thơ về bến My Lăng huyền thoại”…
B Ế N S Ô N G T R Ă N G
Chắt cạn Hồ trường* chẳng biết rót về đâu
Rót xuống giang đầu
người lái đò đã chìm sâu miền quá vãng
Câu thơ buồn lặng lờ trôi cùng dặm dài năm tháng
Khói sóng đôi bờ bảng lảng nhớ dòng sông
Kìa…!
trăng đã lên rồi
ông lái có còn không
Mà mặt sách vẫn rơi vàng trăng cũ
Chén nhớ rót đầy người xưa về có đủ
Bến vắng nằm không đợi khách đến bao giờ ?
Tiếng gọi đò đồng vọng khúc sông thơ
Thuyền cứ ngỡ người xưa giờ trở lại
Bến sông trăng trải gió đồng hoang hoải
Rượu cạn rồi còn biết rót về đâu
Rót về đâu rượu ngả màu xa ngái
Trên áo người đi chẳng ngó lại bao giờ
Ông lái đâu rồi ?
Ông lái đâu rồi tịch lặng một bến mơ
Đành nằm không đôi bờ xưa lau lách
Đợi
tiếng gọi đò
thuyền
khách
bặt… mù tăm !
Duy Pham
* tên một bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Bá Trác.
Lisa La



