Văn hóa dân gian

Thu tế

PHONG TỤC XƯA KỂ LẠI CHO CON CHÁU

Ở Huế, vào khoảng tháng Bảy âm lịch, lại nghe người lớn trong làng nhắc nhau: sắp tới kỳ Thu tế rồi.

Những ai lớn lên ở làng quê, tuổi thơ từng theo cha mẹ, ông bà ra đình chắc vẫn còn nhớ Thu tế là gì. Nhưng con cháu bây giờ nhiều đứa sinh ra, lớn lên xa quê, mấy khi được về Huế mà gặp đúng dịp. Như các con tôi, coi phim ảnh thấy người ta áo quần chỉnh tề, cờ lọng đi trước, rồi chiếc kiệu sơn son được mấy người ghé vai khiêng giữa đoàn rước, khi nào cũng hỏi: “Khiêng chi rứa? Khiêng đi mô?”

Chỉ một câu hỏi của con trẻ thôi mà lần theo đó có thể kể được cả chuyện của một ngôi làng.

Thu tế, nói cho dễ hiểu, là lễ tế của làng vào mùa thu. Ở Huế, từ Kim Long, An Truyền (làng Chuồn), Lại Thế, Kế Môn đến Thủy Thanh…, mỗi làng có lịch sử, thần tích và lệ riêng nên ngày tế, người được phụng thờ và cách hành lễ cũng không hoàn toàn giống nhau. Bởi vậy, biết Thu tế của làng mình chưa chắc đã biết đúng chuyện Thu tế của làng bên cạnh.

Ngày xưa, cuộc sống làng quê đi theo mùa lúa. Việc ngoài đồng vừa vãn, người ta bắt đầu lo chuyện đình làng. Đình được quét dọn, hương án sửa sang, lễ vật chuẩn bị. Người rành việc tế tự lo nghi lễ, người khác góp công, góp lễ. Đây không phải đám cúng của riêng một nhà mà là việc chung của cả làng.

Người ta về đình để kính lễ những vị thần làng phụng thờ, tưởng nhớ các bậc khai canh, khai khẩn và những người có công với làng. Trong lễ tế còn có những mong cầu rất gần với cuộc sống của người xưa: mưa thuận gió hòa, mùa màng yên ổn, xóm làng bình an. Sống trên đất thì biết ơn đất, hưởng cái người trước gây dựng thì nhớ người trước. Cứ vậy, đời này qua đời khác thành một nếp.

Có làng còn giữ lệ rước. Đây chắc là đoạn trẻ con thích xem nhất, bởi có cờ, lọng, chiêng trống và chiếc kiệu sơn son đi giữa đoàn người.

Thấy mấy người ghé vai khiêng kiệu, đứa nhỏ hỏi “trong đó có ai không?” cũng phải. Kiệu ấy không phải để chở người. Tùy lệ từng làng, kiệu hoặc long đình được dùng để cung nghinh thần vị, bài vị hay vật biểu trưng của vị được phụng thờ từ nơi thờ tự về đình dự hưởng lễ tế. Lễ mãn lại cung tiễn trở về. Bởi vậy người làng gọi là “rước”, chứ không chỉ là khiêng một vật từ chỗ này sang chỗ khác.

Đoàn rước cũng có thứ tự. Người dẫn đầu, cờ lọng, chiêng trống, kiệu và những người có phận sự đều đi theo lệ. Có nơi đoàn đi qua, dân trong xóm đặt hương án đón. Đường rước có khi chẳng xa, nhưng với người trong làng, đó là một đoạn đường trang nghiêm.

Ở đình, cuộc tế cũng có người đảm trách từng phần. Người đứng chính gọi là chủ tế. Người dự sẽ thấy lúc dâng hương, lúc dâng rượu, khi đọc văn tế; từng nghi thức theo tiếng xướng, tiếng chiêng trống.

Hương dâng để tỏ lòng thành kính. Rượu và lễ phẩm được kính dâng theo lệ. Văn tế thay lời dân làng kính trình với những vị được phụng thờ, nhắc công đức người trước và gửi vào đó những mong cầu của người đang sống. Người làng ngày trước theo cha ông ra đình từ nhỏ nên nhìn rồi quen, nghe rồi hiểu. Còn lớp trẻ bây giờ, nếu không có ai kể, đứng xem hết một buổi tế có khi vẫn chẳng biết những gì vừa diễn ra trước mắt.

Hồi xưa ông bà hay cha mẹ mình cũng không ai ngồi dạy con cháu từng nghi thức như bài học ở trường. Trẻ con cứ theo cha mẹ, ông bà ra đình. Ban đầu đứng coi, lớn chút thì phụ việc. Nghe người già kể nhiều rồi biết làng mình thờ ai, ai là người khai canh, vì sao có ngôi miếu đầu xóm, vì sao đến ngày ấy người làng lại sửa lễ ra đình. Chuyện làng cứ vậy mà ngấm vào người lúc nào không hay.

Tôi hiểu chút đỉnh về Thu tế cũng từ đó.

Ngày thường ai lo việc nấy. Người làm ruộng, người buôn bán, người đi làm xa. Đến ngày tế, người ta lại gặp nhau ở đình. Các cụ lớn tuổi lo nghi lễ, lớp trẻ phụ việc, bà con lâu ngày gặp lại đứng ngoài sân hỏi thăm nhau vài câu. Đám trẻ chưa hiểu gì thì chạy chơi, nhưng trong ký ức của chúng đã có một ngày theo ông bà về đình, có tiếng trống, có mùi hương, có một chiếc kiệu đi qua giữa làng.

Bây giờ làng Huế khác xưa nhiều. Có nơi ruộng đã thành phố, người sống bằng nghề nông ít dần, con cháu đi học rồi lập nghiệp khắp nơi. Người thuộc hết từng câu xướng, từng bước của cuộc tế cũng ngày một ít. Một số nghi thức vì thế được giản lược cho hợp với đời sống hôm nay.

Chuyện giản lược theo thời gian cũng là lẽ thường. Chỉ mong con cháu sau này khi nhìn một đoàn rước, một chiếc kiệu đi qua hay nghe nhắc đến ngày Thu tế vẫn còn biết đó là chuyện gì của làng mình.

Nói vậy để thấy những câu hỏi của trẻ con quý lắm. Nếu tụi nhỏ tò mò và hỏi:

“Khiêng cái chi rứa?”

“Rước đi mô?”

“Răng phải rước về đình?”

“Răng phải đánh trống?”

Cứ để chúng hỏi. Người lớn biết tới đâu kể tới đó. Chuyện nào chưa rõ thì hỏi lại các bậc cao niên trong làng. Những gì ông bà đã giữ qua nhiều đời, con cháu ít nhất cũng nên biết đó là gì, vì sao ngày trước người ta làm và vì sao đến hôm nay làng mình vẫn còn giữ.

Rồi biết đâu vài chục năm nữa, đứa nhỏ hôm nay ngồi bên cha mẹ xem một đoạn phim Thu tế lại dắt con cháu mình về Huế đúng dịp. Khi chiếc kiệu đi ngang, một bàn tay nhỏ kéo áo hỏi:

“Hôm ni làng mình làm chi rứa?”

Và nó còn biết chuyện để kể lại cho thế hệ sau.

Được vậy, chuyện Thu tế hôm nay mình kể cho con cháu nghe, mai sau lại có người kể tiếp cho một đời sau nữa.

✒️ Lisa La

Bài viết mới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button